<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
	<channel>
		<title><![CDATA[Lối Xưa Mây Ngàn - Lối Xưa Thư Phòng]]></title>
		<link>http://www.loixuamayngan.net/</link>
		<description><![CDATA[Lối Xưa Mây Ngàn - http://www.loixuamayngan.net]]></description>
		<pubDate>Sat, 25 Apr 2026 15:10:35 +0000</pubDate>
		<generator>MyBB</generator>
		<item>
			<title><![CDATA[GIẤC MƠ HỒI HƯƠNG - Đào Thể ]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8209</link>
			<pubDate>Fri, 09 Aug 2024 22:38:28 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8209</guid>
			<description><![CDATA[(Bút ký)<br />
<br />
Anh Phúc và gia đình qua Mỹ năm 1990 thuộc diện bảo lãnh. Anh và gia đình, vợ và ba con, được tái định cư ở tiểu bang New Mexico, tiểu bang thứ 49, tương đối đất mới, người thưa, rất tốt cho những người Mỹ trẻ đến đó để lâp nghiệp. Nhưng với anh Phúc lúc đó đã ngoài năm mươi. Ý nghĩ đầu tiên của anh là tạm sống ở đây một thời gian sau khi có thẻ thường trú, rồi sẽ tìm cách qua Cali sống có bạn bè và cộng đồng người Việt.<br />
Anh đâu có ngờ, chỉ trong một thoáng mà tiểu bang New Mexico cầm chân gia đình ở đấy gần 3 năm. Sau 18 tháng đầu, gia đình anh bị cắt welfare. Vợ anh mắc bịnh ung thư. Rốt cuộc anh và các con đã phải bỏ học tiếng Anh và chuyên môn, bung ra làm assembler để có bảo hiểm y tế cho gia đình. Nhưng rồi chị cũng qua đời, anh mất hết ý nghĩa của cuộc sống. Là một giáo sư dạy Triết ở trong nước, bây giờ nhìn lại thân phận tị nạn bèo bọt của mình và phần số hẩm hiu của vợ, anh thấy cuộc đời này thật ngắn ngủi và vô định .<br />
<br />
Cuối năm 1994, bốn cha con, cùng lọ tro cốt của chị, chạy qua Cali kiếm sống và tìm sự giúp đỡ ít ra là tinh thần của cộng đồng Người Việt và bạn bè, những người bạn đã từng khắng khít với anh trong thời chiến, trong lao tù cải tạo. Nhưng sự đời không diễn ra như anh tưởng. Sau gần 20 năm xa cách, biết bao nước chảy qua cầu, bạn bè thân thích trước 1975, đôi khi gặp nhau trên đất lạ xứ người lại không nhìn ra nhau. May mà anh còn có nhóm học trò cũ trước 75, chẳng những nhìn ra anh, họ còn nhớ công ơn dạy dỗ của anh; có một số đến thăm anh và chía sẻ giúp đỡ cha con anh tìm job hay đăng ký bảo hiểm sức khỏe, tem phiếu thực phẩm trong khi chờ đợi có job. Điều này làm cho anh thấy được niềm an ủi. Một số hoc trò của anh, còn nhớ anh đã từng dạy dạy Piano, và anh đã đào tạo một số nhac sỹ Piano thành danh sau này. Họ đến tìm anh và yêu cầu anh day piano cho các con của họ. Anh được trả lương hậu hỉ và bằng cash. Nhờ thế anh có những năm tháng sống thoải mái với nghề gia sư về Piano, nhất là sau năm 2002, khi đó anh đã đuọc 65 tuổi, anh đã có quốc tich Mỹ anh lãnh tiền già và được cắp thẻ Medicaid.<br />
<br />
Dòng đời của anh không vì thế mà yên bình trôi chảy mãi. Đến năm 1999, người con trai lớn của anh trong cơn khủng hoảng với vợ, anh chàng bỏ gia đinh vào chùa tu. Người con trai thứ của anh đi lấy vợ. Gia đình của nó là gia đình hạt nhân kiểu Mỹ. Người con gái út có chồng là kỹ sư điện toán, cũng là học trò cũ của anh. Họ đã có có hai mặt con. Thỉnh thoảng hai vợ chồng người con gái út đến thăm anh. Đó là niềm an ủi còn sót lại trong cuộc sống lưu vong của anh.<br />
<br />
Sống trong tuổi già với bao nhiêu kỷ niệm đau thương chồng chất, anh hứng chịu tất cả bịnh chứng của tuổi già: cao áp huyết, tiểu đường, phì đại tuyến tiền liệt...và cuối cùng anh bị stroke, liệt nửa người bên trái, vào năm 2008 khi tuổi đời vừa đúng 70. Thế giới của anh bây giờ chỉ còn lại chiếc xe lăn, LapTop, Iphone. Phòng anh ở theo chế độ housing, chinh phủ chi trả 90% tiền thuê phòng. Anh từ bỏ nghề gia sư về piano. Anh rơi vào tình trạng trầm cảm, anh tìm đến các bác sĩ tâm thần để tư vấn và điều trị những hội chứng anxiety, panic disorders. Nguyên là giáo sư triết và tâm lý học anh biết tự kiềm chế mình trong những cơn khủng hoảng...<br />
<br />
Ở tuổi 75, anh cam chịu sống trong Viện Dưỡng Lão dành cho người già tàn phế. Anh ở chung phòng với một người Mỹ gốc Mễ. Ông này có triệu chứng liệt vì stroke và thất ngữ, không nói được. Tuy trong phòng có 2 người nhiều lúc anh cảm thấy mình sống chỉ có một mình trong một thế giới câm nín. Từ phòng anh, nhìn xuống phía dưới lầu là một con sông rộng trải dài đến tận ngút ngàn. Bên kia trời là những đỉnh cao của dãy Rocky Mountains. Những khi chiều xuống, nhìn khói sóng trên sông anh nhớ nhà chi lạ, anh ngâm ngùi nhớ câu cổ thi Trung Quốc: <span style="font-style: italic;">"Nhật mộ hương quan hà xứ thị/Yên ba giang thượng sử nhân sầu..."(*)<br />
</span><br />
Bây giờ anh bắt đầu sống với quá khứ, với những hoài niệm buồn vui lẫn lộn. Với cái LapTop qua Internet, email. facebook, anh tìm lại bạn bè thất lạc trong thời chiến tranh khốc liệt, thời hậu chiến đầy gian khổ. Anh đươc an ủi rất nhiều khi nhân đươc từ Facebook các bạn bè nhắc lại câu chuyện và hình ảnh thân yêu xưa cũ. Anh nhớ lại những lần được vợ thăm nuôi trong lao tù cải tạo, những lúc đó anh nhìn lọ tro cốt của chị anh rưng rưng nước mắt.<br />
<br />
Anh vốn dĩ là Phật tử, măc đầu anh không qui y, không pháp danh, không ăn chay, toàn ăn mặn. Anh thường đọc kinh Cứu Khổ vào buổi sáng kể từ khi anh trở về từ lao tù hoc tập cải tạo. Anh nhớ lại tại một buổi thuyết trình tại Đai Học Văn Khoa Saigòn vào khoảng năm 1962, một giáo sư người Pháp, Michel Piclin, cho rằng đạo Phật là một triết hoc dạy ta sống với lòng vị tha. Đạo phật để sống chứ không phải để cầu, đạo Phật hướng dẫn chúng ta đi chứ không hứa đưa chúng ta tới đích. Khác với tôn giáo khác, đạo Phật không thừa nhận có Thượng Đế hay một đấng Siêu Quyền Lực như đấng Allah, có toàn năng chi phối đời sống của con người cũng như ban phát khen thưởng trừng phạt con người. GS Piclin thuyết giản: Không có Đức Phật tự sinh. Tất cả phải thông qua một quá trình tu tập rèn luyện đầy nghị lực với tất cả Bi-Trí-Dũng. Đức phật đã từng nói:"Ta là Phật đã thành-Chúng sinh là Phật sắp thành". Và GS. Michel Piclin đi đến kết luận gây sốc mọi kháng thính giả: "Đạo Phật Vô thần". Dù sao buổi thuyết trinh hôm ấy của GS. Michel Piclin đã để lại anh nhiều ấn tượng sâu sắc về Phật học.<br />
<br />
Trung tuần tháng 5 năm 2020, giữa mùa đại dich Covid-19, anh nhận được email của người em gái tên Hạnh từ Viêt Nam. Người em gái báo cho anh biết, các con của chị ấy đã nên gia thất, và ra ở riêng. Bây giờ chỉ còn có hai vợ chồng già ở trong một cái nhà khá rộng. Cô em gái của anh rất mong ngày hồi hương của anh. Nếu cần cô áy sẽ thuê một người chuyên chăm sóc người già tại tư gia để chăm sóc cho anh. Vợ chồng cô ấy chịu chi phí tất cho cuộc sống của anh tại quê nhà không có gì là gánh nặng tài chánh cho cho họ cả. Và cô ấy bảo anh tranh thủ trở về càng sớm càng tốt.<br />
<br />
Sự thật, đầu năm 2020, anh có nói chuyện với vợ chồng người con gái út của anh là anh muốn hồi hương. Người con gái của anh cũng cho anh hay viêc hồi hương của anh từ Viện Dưỡng Lão về Viêt Nam trong thời đại dịch Covid-19 phải qua nhiều thủ tục khá rắc rối. Nhưng vợ chồng con sẽ cố gắng, trước hết là phải hỏi ý kiến của Cô Hạnh bên nhà. Nếu cô đồng ý tự nguyện chăm sóc ba ở tuổi già, sau đó con sẽ lo tiến hành thủ tục cho ba hồi hương. Hy vọng khi đại dịch Covid-19 lắng xuống, ba có thể trở về nhà. Nói tới đây mặt người con gái út ràn rụa nước mắt. Anh nhìn lọ tro cốt của chị, anh nói, viêc đầu tiên khi ba về bên nhà là ba phải lo xây mộ phần cho mẹ con, sau đó khi nào ba chết các con nên nhớ đăt mộ phần của ba bên cạnh mộ phần mẹ con...<br />
<br />
Cuối tháng 7 vừa rồi, người con trai cả của anh, đến thăm anh tại Viện Dưỡng Lão. Khi găp anh người con trai trong bộ áo cà sa màu nâu sậm, chấp tay vái chào anh. Anh thật ngỡ ngàng khi gặp lại người con trai của mình sau hai mươi năm xa cách. Anh kéo con anh cúi xuống gần anh hơn. Anh không tin mình đang ôm vào lòng một vị chân tu. Người con ngồi bên cạnh chiếc xe lăn của cha, anh cầm tay cha, tỏ bày, con đến hầu thăm Ba khi được biết ba sẽ hồi hương trong nay mai. Con chúc ba bình an và được an lac nơi quê nhà. Các con ở Mỹ sẽ không bao giờ dám quên đươc công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Anh nhìn thẳng vào mắt con, anh bảo, ba thành khẩn cầu chúc những buổi lễ con ban sẽ có nhiều tín chúng đến tham dự lắng nghe con. Ba cũng không thể nào quên được nước Mỹ đã từng nuôi dưỡng gia đinh mình và bây giờ nước Mỹ vẫn tiếp tục cưu mang các con. Ba mong rằng các con hãy thương yêu và phụng sự nước Mỹ như tổ quốc của các con...<br />
<br />
Ngoài kia nắng chiều vừa xuống. Trước khi nói lời từ giã với cha mình, vị chân tu đưa bằng hai tay cho cha chuỗi tràng hạt, và vị chân tu nghẹn ngào: thưa ba giử lấy chuỗi tràng hạt này, để khi nào ba có băn khoăn điều gì, một cơ duyên gì, xin ba cứ lần tràng hạt tinh thần ba có đủ tĩnh thức, và tâm hồn ba sẽ bình an. Anh đưa tay nhận chuỗi tràng hạt, cả hai cha con nhìn nhau trong suốt chiều sâu của tâm thức...<br />
Từ chiếc xe lăn, anh nhìn theo bóng con khuất dần sau những vạt nắng, tay anh vô tình lần tràng hạt, anh băn khoăn sự tu tập của con sẽ đi tới đâu? Anh nghiêng tâm nghe lòng mình rung động trong nắng hoàng hôn.../.<br />
<br />
Đào Như<br />
<br />
(*) Trích từ bai thơ Hoang Hạt Lâu-của Thôi Hiệu-Nhà thơ Trung Quốc đời Đường<br />
<span style="font-style: italic;">Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buòn lòng ai..</span>.Tản Đà dịch<span style="font-family: inherit;"><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-family: inherit;"><span style="font-family: inherit;"><span style="font-family: inherit;"><span style="font-family: inherit;"><br />
</span></span></span></span></span></span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[(Bút ký)<br />
<br />
Anh Phúc và gia đình qua Mỹ năm 1990 thuộc diện bảo lãnh. Anh và gia đình, vợ và ba con, được tái định cư ở tiểu bang New Mexico, tiểu bang thứ 49, tương đối đất mới, người thưa, rất tốt cho những người Mỹ trẻ đến đó để lâp nghiệp. Nhưng với anh Phúc lúc đó đã ngoài năm mươi. Ý nghĩ đầu tiên của anh là tạm sống ở đây một thời gian sau khi có thẻ thường trú, rồi sẽ tìm cách qua Cali sống có bạn bè và cộng đồng người Việt.<br />
Anh đâu có ngờ, chỉ trong một thoáng mà tiểu bang New Mexico cầm chân gia đình ở đấy gần 3 năm. Sau 18 tháng đầu, gia đình anh bị cắt welfare. Vợ anh mắc bịnh ung thư. Rốt cuộc anh và các con đã phải bỏ học tiếng Anh và chuyên môn, bung ra làm assembler để có bảo hiểm y tế cho gia đình. Nhưng rồi chị cũng qua đời, anh mất hết ý nghĩa của cuộc sống. Là một giáo sư dạy Triết ở trong nước, bây giờ nhìn lại thân phận tị nạn bèo bọt của mình và phần số hẩm hiu của vợ, anh thấy cuộc đời này thật ngắn ngủi và vô định .<br />
<br />
Cuối năm 1994, bốn cha con, cùng lọ tro cốt của chị, chạy qua Cali kiếm sống và tìm sự giúp đỡ ít ra là tinh thần của cộng đồng Người Việt và bạn bè, những người bạn đã từng khắng khít với anh trong thời chiến, trong lao tù cải tạo. Nhưng sự đời không diễn ra như anh tưởng. Sau gần 20 năm xa cách, biết bao nước chảy qua cầu, bạn bè thân thích trước 1975, đôi khi gặp nhau trên đất lạ xứ người lại không nhìn ra nhau. May mà anh còn có nhóm học trò cũ trước 75, chẳng những nhìn ra anh, họ còn nhớ công ơn dạy dỗ của anh; có một số đến thăm anh và chía sẻ giúp đỡ cha con anh tìm job hay đăng ký bảo hiểm sức khỏe, tem phiếu thực phẩm trong khi chờ đợi có job. Điều này làm cho anh thấy được niềm an ủi. Một số hoc trò của anh, còn nhớ anh đã từng dạy dạy Piano, và anh đã đào tạo một số nhac sỹ Piano thành danh sau này. Họ đến tìm anh và yêu cầu anh day piano cho các con của họ. Anh được trả lương hậu hỉ và bằng cash. Nhờ thế anh có những năm tháng sống thoải mái với nghề gia sư về Piano, nhất là sau năm 2002, khi đó anh đã đuọc 65 tuổi, anh đã có quốc tich Mỹ anh lãnh tiền già và được cắp thẻ Medicaid.<br />
<br />
Dòng đời của anh không vì thế mà yên bình trôi chảy mãi. Đến năm 1999, người con trai lớn của anh trong cơn khủng hoảng với vợ, anh chàng bỏ gia đinh vào chùa tu. Người con trai thứ của anh đi lấy vợ. Gia đình của nó là gia đình hạt nhân kiểu Mỹ. Người con gái út có chồng là kỹ sư điện toán, cũng là học trò cũ của anh. Họ đã có có hai mặt con. Thỉnh thoảng hai vợ chồng người con gái út đến thăm anh. Đó là niềm an ủi còn sót lại trong cuộc sống lưu vong của anh.<br />
<br />
Sống trong tuổi già với bao nhiêu kỷ niệm đau thương chồng chất, anh hứng chịu tất cả bịnh chứng của tuổi già: cao áp huyết, tiểu đường, phì đại tuyến tiền liệt...và cuối cùng anh bị stroke, liệt nửa người bên trái, vào năm 2008 khi tuổi đời vừa đúng 70. Thế giới của anh bây giờ chỉ còn lại chiếc xe lăn, LapTop, Iphone. Phòng anh ở theo chế độ housing, chinh phủ chi trả 90% tiền thuê phòng. Anh từ bỏ nghề gia sư về piano. Anh rơi vào tình trạng trầm cảm, anh tìm đến các bác sĩ tâm thần để tư vấn và điều trị những hội chứng anxiety, panic disorders. Nguyên là giáo sư triết và tâm lý học anh biết tự kiềm chế mình trong những cơn khủng hoảng...<br />
<br />
Ở tuổi 75, anh cam chịu sống trong Viện Dưỡng Lão dành cho người già tàn phế. Anh ở chung phòng với một người Mỹ gốc Mễ. Ông này có triệu chứng liệt vì stroke và thất ngữ, không nói được. Tuy trong phòng có 2 người nhiều lúc anh cảm thấy mình sống chỉ có một mình trong một thế giới câm nín. Từ phòng anh, nhìn xuống phía dưới lầu là một con sông rộng trải dài đến tận ngút ngàn. Bên kia trời là những đỉnh cao của dãy Rocky Mountains. Những khi chiều xuống, nhìn khói sóng trên sông anh nhớ nhà chi lạ, anh ngâm ngùi nhớ câu cổ thi Trung Quốc: <span style="font-style: italic;">"Nhật mộ hương quan hà xứ thị/Yên ba giang thượng sử nhân sầu..."(*)<br />
</span><br />
Bây giờ anh bắt đầu sống với quá khứ, với những hoài niệm buồn vui lẫn lộn. Với cái LapTop qua Internet, email. facebook, anh tìm lại bạn bè thất lạc trong thời chiến tranh khốc liệt, thời hậu chiến đầy gian khổ. Anh đươc an ủi rất nhiều khi nhân đươc từ Facebook các bạn bè nhắc lại câu chuyện và hình ảnh thân yêu xưa cũ. Anh nhớ lại những lần được vợ thăm nuôi trong lao tù cải tạo, những lúc đó anh nhìn lọ tro cốt của chị anh rưng rưng nước mắt.<br />
<br />
Anh vốn dĩ là Phật tử, măc đầu anh không qui y, không pháp danh, không ăn chay, toàn ăn mặn. Anh thường đọc kinh Cứu Khổ vào buổi sáng kể từ khi anh trở về từ lao tù hoc tập cải tạo. Anh nhớ lại tại một buổi thuyết trình tại Đai Học Văn Khoa Saigòn vào khoảng năm 1962, một giáo sư người Pháp, Michel Piclin, cho rằng đạo Phật là một triết hoc dạy ta sống với lòng vị tha. Đạo phật để sống chứ không phải để cầu, đạo Phật hướng dẫn chúng ta đi chứ không hứa đưa chúng ta tới đích. Khác với tôn giáo khác, đạo Phật không thừa nhận có Thượng Đế hay một đấng Siêu Quyền Lực như đấng Allah, có toàn năng chi phối đời sống của con người cũng như ban phát khen thưởng trừng phạt con người. GS Piclin thuyết giản: Không có Đức Phật tự sinh. Tất cả phải thông qua một quá trình tu tập rèn luyện đầy nghị lực với tất cả Bi-Trí-Dũng. Đức phật đã từng nói:"Ta là Phật đã thành-Chúng sinh là Phật sắp thành". Và GS. Michel Piclin đi đến kết luận gây sốc mọi kháng thính giả: "Đạo Phật Vô thần". Dù sao buổi thuyết trinh hôm ấy của GS. Michel Piclin đã để lại anh nhiều ấn tượng sâu sắc về Phật học.<br />
<br />
Trung tuần tháng 5 năm 2020, giữa mùa đại dich Covid-19, anh nhận được email của người em gái tên Hạnh từ Viêt Nam. Người em gái báo cho anh biết, các con của chị ấy đã nên gia thất, và ra ở riêng. Bây giờ chỉ còn có hai vợ chồng già ở trong một cái nhà khá rộng. Cô em gái của anh rất mong ngày hồi hương của anh. Nếu cần cô áy sẽ thuê một người chuyên chăm sóc người già tại tư gia để chăm sóc cho anh. Vợ chồng cô ấy chịu chi phí tất cho cuộc sống của anh tại quê nhà không có gì là gánh nặng tài chánh cho cho họ cả. Và cô ấy bảo anh tranh thủ trở về càng sớm càng tốt.<br />
<br />
Sự thật, đầu năm 2020, anh có nói chuyện với vợ chồng người con gái út của anh là anh muốn hồi hương. Người con gái của anh cũng cho anh hay viêc hồi hương của anh từ Viện Dưỡng Lão về Viêt Nam trong thời đại dịch Covid-19 phải qua nhiều thủ tục khá rắc rối. Nhưng vợ chồng con sẽ cố gắng, trước hết là phải hỏi ý kiến của Cô Hạnh bên nhà. Nếu cô đồng ý tự nguyện chăm sóc ba ở tuổi già, sau đó con sẽ lo tiến hành thủ tục cho ba hồi hương. Hy vọng khi đại dịch Covid-19 lắng xuống, ba có thể trở về nhà. Nói tới đây mặt người con gái út ràn rụa nước mắt. Anh nhìn lọ tro cốt của chị, anh nói, viêc đầu tiên khi ba về bên nhà là ba phải lo xây mộ phần cho mẹ con, sau đó khi nào ba chết các con nên nhớ đăt mộ phần của ba bên cạnh mộ phần mẹ con...<br />
<br />
Cuối tháng 7 vừa rồi, người con trai cả của anh, đến thăm anh tại Viện Dưỡng Lão. Khi găp anh người con trai trong bộ áo cà sa màu nâu sậm, chấp tay vái chào anh. Anh thật ngỡ ngàng khi gặp lại người con trai của mình sau hai mươi năm xa cách. Anh kéo con anh cúi xuống gần anh hơn. Anh không tin mình đang ôm vào lòng một vị chân tu. Người con ngồi bên cạnh chiếc xe lăn của cha, anh cầm tay cha, tỏ bày, con đến hầu thăm Ba khi được biết ba sẽ hồi hương trong nay mai. Con chúc ba bình an và được an lac nơi quê nhà. Các con ở Mỹ sẽ không bao giờ dám quên đươc công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Anh nhìn thẳng vào mắt con, anh bảo, ba thành khẩn cầu chúc những buổi lễ con ban sẽ có nhiều tín chúng đến tham dự lắng nghe con. Ba cũng không thể nào quên được nước Mỹ đã từng nuôi dưỡng gia đinh mình và bây giờ nước Mỹ vẫn tiếp tục cưu mang các con. Ba mong rằng các con hãy thương yêu và phụng sự nước Mỹ như tổ quốc của các con...<br />
<br />
Ngoài kia nắng chiều vừa xuống. Trước khi nói lời từ giã với cha mình, vị chân tu đưa bằng hai tay cho cha chuỗi tràng hạt, và vị chân tu nghẹn ngào: thưa ba giử lấy chuỗi tràng hạt này, để khi nào ba có băn khoăn điều gì, một cơ duyên gì, xin ba cứ lần tràng hạt tinh thần ba có đủ tĩnh thức, và tâm hồn ba sẽ bình an. Anh đưa tay nhận chuỗi tràng hạt, cả hai cha con nhìn nhau trong suốt chiều sâu của tâm thức...<br />
Từ chiếc xe lăn, anh nhìn theo bóng con khuất dần sau những vạt nắng, tay anh vô tình lần tràng hạt, anh băn khoăn sự tu tập của con sẽ đi tới đâu? Anh nghiêng tâm nghe lòng mình rung động trong nắng hoàng hôn.../.<br />
<br />
Đào Như<br />
<br />
(*) Trích từ bai thơ Hoang Hạt Lâu-của Thôi Hiệu-Nhà thơ Trung Quốc đời Đường<br />
<span style="font-style: italic;">Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buòn lòng ai..</span>.Tản Đà dịch<span style="font-family: inherit;"><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-family: inherit;"><span style="font-family: inherit;"><span style="font-family: inherit;"><span style="font-family: inherit;"><br />
</span></span></span></span></span></span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[TẢN MẠN CHÁO ]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8198</link>
			<pubDate>Fri, 31 May 2024 03:22:18 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8198</guid>
			<description><![CDATA[Tản mạn ‘“cháo” <br />
(Copied từ facebook )<br />
<br />
<br />
Trong tiếng Anh có ba từ nói về cháo .Porridge là từ để nói về cháo trắng đặc được nấu từ gạo hoặc yến mạch gần như cháo trắng mà chúng ta hay dùng để ăn chung với hột vịt muối .Các nước phương Tây cũng ăn porridge nấu rất đặc biệt vào buổi sáng cho thêm chút muối tiêu hoặc trứng tráng hoặc với xúc xích nhỏ .Còn cháo hoa (cháo nấu với ít gạo và nhiều nước để hạt gạo nở ra như hoa )và thường nấu chung với thịt “congee “hoặc rice soup .Để nói về món cháo vịt ,đáng lẽ phải được gọi là “duck meat congee “hoặc “duck meat soup “ mới đúng .Quả thật có những cái mình nghĩ mình biết rồi nhưng vẫn sai như thường .<br />
 <br />
Trở lại với cháo,hồi nhỏ tôi rất ghét ăn cháo vì cháo vừa lạt vừa loãng , ăn xong cũng như chưa ăn ,không được chắc bụng như ăn cơm . Tôi né tất cả các thể loại cháo từ cháo trắng với thịt kho tiêu mỗi khi bị bệnh cho tới cháo gà ,cháo vịt ,cháo lòng,cháo cá …Trong đó, món cháo mà tôi ghét nhất là món cháo trắng của người Tiều .Không như cháo trắng của người Việt bán ở các xe cháo khuya ăn cùng với dưa món ,hột vịt muối hoặc thịt cá kho tiêu ,vốn là cháo trắng nấu đặc ; cháo trắng của người Tiều nấu rất loãng ,bảy phần nước và ba phần gạo , nấu tới khi phần gạo nở bung ra gần như nát nhừ ,ăn chẳng có mùi vị gì cả.<br />
Người Tiều ăn cháo gần như trong mỗi bữa ăn .Buổi sáng của người QuảngĐông ,sang thì điểm tâm với đủ thứ há cảo xíu mại ,bình dân thì cũng tô hủ tiếu mì hay cái bánh bao ,còn buổi sáng của người Tiều thì ăn cháo loãng với cà na muối hoặc hột vịt muối hoặc cải xá bấu muối thật mặn .Sang hơn tí nữa là cặp với dầu cha quẩy là xong buổi sáng.Buổi trưa và buổi chiều thì họ lại có tô cháo loãng được thế bằng tô canh để húp .<br />
<br />
Hồi còn nhỏ,mỗi buổi tối đi ăn cơm Tiều , ba tôi thường kêu thêm món cháo trắng để húp với ít nước thịt kho còn lại .Khi tôi tỏ vẻ không hứng thú với việc húp chén cháo trắng nhạt thếch lỏng bỏng này , ba tôi hay bảo :”Hồiba còn nhỏ ,a dẻ a mà (ông nội bà nội)còn nghèo lắm ,cả nhà bảy tám anh chị em ,mổi người chỉ có dách gủn pạc chúc (một chén cháo trắng),và pun che hàm tản (nữa cái trứng vịt muối)thôi “.<br />
Người Tiều không chỉ ăn cháo trắng mà cả cháo lòng với đầy đủ tim gan cật ruột cũng gần như cháo lòng của người Việt .Nứơc cháo được nấu bằng mực ,nấm rơm và xương ống nên nước rất ngọt và thơm ,được ăn chung với dầu cha quẫy ,nhưng không bỏ giá với ớt nhưng rất nhiều hành lá ,tiêu xay và một ít dầu mè ,thêm một chút tươngđỏ .Không chỉ có cháo lòng mà cháo gà ,cháo vịt ,cháo thịt bầm hoặc cháo tôm đều nêm nếm như vậy .<br />
<br />
Dân sành ăn tối Saigon ,chắc không quên quán cháo thập Cẩm ở bùng binh “Soái Kình lâm “kế bên tiệm thuốc bắc Phùng Hưng ,cháo ở đây nấu theo kiểu người Quảng Đông ,cháo đặc ăn với tôm mực ,da heo,gan,cật…nên gọi là “cham chúc (cháo thập cẩm) quán này đã có hàng sáu chục năm và tôi đã được ba tôi dẫn đến quán này để thử .<br />
<br />
Dạo mấy năm gần đây ,tôi lại thích ăn cháo .Nhiều lúc cảm thấy mệt trong người hoặc chán cơm ,thì một chén cháo trắng với nữa cái hột vịt muối ,hoặc chút tiêu kho mặn cũng có thể giải quyết được cơn đói và nhẹ người.Tôi thích ăn trứng bắc thảo ,nấu chung với cháo hoặc chưng với hột vịt tươi ,trứng vịt muối tạo thành ba màu ăn chung với cháo thì tuyệt vời.Hột vịt bắc thảo ai ăn không quen thì nhìn sờ sợ ,vì có quả trứng đen bóng và có mùi giống như amoniac ,nhưng khi đã quen rồi thì sẽ ghiền vì vị béo béo bùi bùi rất đặc trưng .Một dịp lúc tôi nấu cháo với hột vịt bắc thảo mời một cô bạn người Nhật ăn thử ,lúc đầu cô còn ngại vì thấy màu cháo đen thui,nhưng sau khi thử thì cô hỏi thêm một chén nữa .Bởi vậy mới nói không phải là sơn hào hải vị mới ngon mà đôi khi cái thứ dân dã ,đơn giản mà hợp với khẩu vị vẫn ngon hơn yến sào bào ngư vi cá vậy.<br />
<br />
Tản mạc về các thứ cháo Tây ,Tàu … thì cháo của người Việt vẫn mang tính chất dân gian,vì ở nơi nào vị đặc biệt của nó vẫn mang theo bên mình với cách nấu bằng gạo,(cho thêm chút nếp)cho sền sệt và nhất là nấu với gà ác đen ,cộng với giá sống bỏ chút ngò rí ,hành,là và thêm chút tiêu ,tương ớt thì thấy hấp dẫn hơn cháo của người ta .]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Tản mạn ‘“cháo” <br />
(Copied từ facebook )<br />
<br />
<br />
Trong tiếng Anh có ba từ nói về cháo .Porridge là từ để nói về cháo trắng đặc được nấu từ gạo hoặc yến mạch gần như cháo trắng mà chúng ta hay dùng để ăn chung với hột vịt muối .Các nước phương Tây cũng ăn porridge nấu rất đặc biệt vào buổi sáng cho thêm chút muối tiêu hoặc trứng tráng hoặc với xúc xích nhỏ .Còn cháo hoa (cháo nấu với ít gạo và nhiều nước để hạt gạo nở ra như hoa )và thường nấu chung với thịt “congee “hoặc rice soup .Để nói về món cháo vịt ,đáng lẽ phải được gọi là “duck meat congee “hoặc “duck meat soup “ mới đúng .Quả thật có những cái mình nghĩ mình biết rồi nhưng vẫn sai như thường .<br />
 <br />
Trở lại với cháo,hồi nhỏ tôi rất ghét ăn cháo vì cháo vừa lạt vừa loãng , ăn xong cũng như chưa ăn ,không được chắc bụng như ăn cơm . Tôi né tất cả các thể loại cháo từ cháo trắng với thịt kho tiêu mỗi khi bị bệnh cho tới cháo gà ,cháo vịt ,cháo lòng,cháo cá …Trong đó, món cháo mà tôi ghét nhất là món cháo trắng của người Tiều .Không như cháo trắng của người Việt bán ở các xe cháo khuya ăn cùng với dưa món ,hột vịt muối hoặc thịt cá kho tiêu ,vốn là cháo trắng nấu đặc ; cháo trắng của người Tiều nấu rất loãng ,bảy phần nước và ba phần gạo , nấu tới khi phần gạo nở bung ra gần như nát nhừ ,ăn chẳng có mùi vị gì cả.<br />
Người Tiều ăn cháo gần như trong mỗi bữa ăn .Buổi sáng của người QuảngĐông ,sang thì điểm tâm với đủ thứ há cảo xíu mại ,bình dân thì cũng tô hủ tiếu mì hay cái bánh bao ,còn buổi sáng của người Tiều thì ăn cháo loãng với cà na muối hoặc hột vịt muối hoặc cải xá bấu muối thật mặn .Sang hơn tí nữa là cặp với dầu cha quẩy là xong buổi sáng.Buổi trưa và buổi chiều thì họ lại có tô cháo loãng được thế bằng tô canh để húp .<br />
<br />
Hồi còn nhỏ,mỗi buổi tối đi ăn cơm Tiều , ba tôi thường kêu thêm món cháo trắng để húp với ít nước thịt kho còn lại .Khi tôi tỏ vẻ không hứng thú với việc húp chén cháo trắng nhạt thếch lỏng bỏng này , ba tôi hay bảo :”Hồiba còn nhỏ ,a dẻ a mà (ông nội bà nội)còn nghèo lắm ,cả nhà bảy tám anh chị em ,mổi người chỉ có dách gủn pạc chúc (một chén cháo trắng),và pun che hàm tản (nữa cái trứng vịt muối)thôi “.<br />
Người Tiều không chỉ ăn cháo trắng mà cả cháo lòng với đầy đủ tim gan cật ruột cũng gần như cháo lòng của người Việt .Nứơc cháo được nấu bằng mực ,nấm rơm và xương ống nên nước rất ngọt và thơm ,được ăn chung với dầu cha quẫy ,nhưng không bỏ giá với ớt nhưng rất nhiều hành lá ,tiêu xay và một ít dầu mè ,thêm một chút tươngđỏ .Không chỉ có cháo lòng mà cháo gà ,cháo vịt ,cháo thịt bầm hoặc cháo tôm đều nêm nếm như vậy .<br />
<br />
Dân sành ăn tối Saigon ,chắc không quên quán cháo thập Cẩm ở bùng binh “Soái Kình lâm “kế bên tiệm thuốc bắc Phùng Hưng ,cháo ở đây nấu theo kiểu người Quảng Đông ,cháo đặc ăn với tôm mực ,da heo,gan,cật…nên gọi là “cham chúc (cháo thập cẩm) quán này đã có hàng sáu chục năm và tôi đã được ba tôi dẫn đến quán này để thử .<br />
<br />
Dạo mấy năm gần đây ,tôi lại thích ăn cháo .Nhiều lúc cảm thấy mệt trong người hoặc chán cơm ,thì một chén cháo trắng với nữa cái hột vịt muối ,hoặc chút tiêu kho mặn cũng có thể giải quyết được cơn đói và nhẹ người.Tôi thích ăn trứng bắc thảo ,nấu chung với cháo hoặc chưng với hột vịt tươi ,trứng vịt muối tạo thành ba màu ăn chung với cháo thì tuyệt vời.Hột vịt bắc thảo ai ăn không quen thì nhìn sờ sợ ,vì có quả trứng đen bóng và có mùi giống như amoniac ,nhưng khi đã quen rồi thì sẽ ghiền vì vị béo béo bùi bùi rất đặc trưng .Một dịp lúc tôi nấu cháo với hột vịt bắc thảo mời một cô bạn người Nhật ăn thử ,lúc đầu cô còn ngại vì thấy màu cháo đen thui,nhưng sau khi thử thì cô hỏi thêm một chén nữa .Bởi vậy mới nói không phải là sơn hào hải vị mới ngon mà đôi khi cái thứ dân dã ,đơn giản mà hợp với khẩu vị vẫn ngon hơn yến sào bào ngư vi cá vậy.<br />
<br />
Tản mạc về các thứ cháo Tây ,Tàu … thì cháo của người Việt vẫn mang tính chất dân gian,vì ở nơi nào vị đặc biệt của nó vẫn mang theo bên mình với cách nấu bằng gạo,(cho thêm chút nếp)cho sền sệt và nhất là nấu với gà ác đen ,cộng với giá sống bỏ chút ngò rí ,hành,là và thêm chút tiêu ,tương ớt thì thấy hấp dẫn hơn cháo của người ta .]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[LỜI NHẠC "SÀI GÒN ƠI! VĨNH BIỆT" LÀ MỘT BÀI THƠ TUYỆT BÚT]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8133</link>
			<pubDate>Fri, 28 Apr 2023 03:21:28 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8133</guid>
			<description><![CDATA[LỜI NHẠC "SÀI GÒN ƠI! VĨNH BIỆT" LÀ MỘT BÀI THƠ TUYỆT BÚT<br />
(Bài viết của Vinh Hồ)<br />
<br />
I. "SÀI GÒN ƠI! VĨNH BIỆT" LÀ NHẠC PHẨM RA ĐỜI ĐẦU TIÊN VÀ NỔI TIẾNG SỚM NHẤT TẠI HẢI NGOẠI SAU 1975:<br />
<br />
Trước ngày thất thủ, Sài Gòn căng như sợi dây đàn. Ngày 26/4/1975, nhạc sĩ Nam Lộc rất tình cờ, đã được một ân nhân chở lên phi trường Tân Sơn Nhất, lúc đó đã có cả ngàn người VN chen chúc bên ngoài trụ sở cơ quan DAO chờ gọi tên lên máy bay di tản sang Hoa Kỳ.<br />
Rạng sáng ngày 28/4/1975, NS Nam Lộc lên chiếc máy bay C-130 sang HK. Sang HK, ông sáng tác nhạc phẩm “Sài Gòn ơi, vĩnh biệt” ra sao? nhạc phẩm đã đến với khán thính giả thế nào? Tất cả đã được ông kể lại rất hấp dẫn ly kỳ như chuyện cổ tích, xin mời đọc link sau:<br />
<br />
<a href="https://t-van.net/nam-loc-moi-ngay-mot-ca-khuc-tuong-niem-30-thang-tu-11/?fbclid=IwAR1PxAGiZraw9kJ8L9CayboJSXXDIUQ9_Vm4ZwCxPNRiGuonYsHCbIkL92M" target="_blank">https://t-van.net/nam-loc-moi-ngay-mot-c...sHCbIkL92M</a><br />
<br />
Tôi xin phép được trích nguyên văn một đoạn:<br />
"12:45 sáng, 28 tháng Tư, 1975, phi cơ cất cánh, nhìn ra ngoài cửa sổ, Sài Gòn mờ dần trong bóng đêm, leo lét những ánh đèn, nhạt nhòa trong nước mắt, tôi thốt lên “Sài Gòn ơi, vĩnh biệt”, rồi cùng khóc với mọi người. Có ngờ đâu đó chính là tựa đề nhạc phẩm đầu tiên mà tôi sẽ sáng tác tại hải ngoại! Nó cũng đã được “thai nghén” vào những ngày cô đơn, sầu tủi trong trại tỵ nạn Pendleton.<br />
Tôi còn nhớ đã hát thử cho Trung Hành nghe trong căn lều vải, nằm dưới thung lũng buồn của trại. Chỉ vừa có vài câu đầu thôi mà hắn đã khóc như một đứa trẻ, đâu biết rằng tôi mới viết chưa xong được đến một nửa bài. Cho mãi đến sau này, khi xuất trại, thật sự đối diện với cuộc sống lưu vong, đầy gian truân, mồ hôi và nước mắt với bao nhọc nhằn, tủi nhục trong thời gian đầu, cộng với nỗi thương nhớ gia đình. Vào giữa tháng 11, 1975 tôi mới hoàn tất nhạc phẩm “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!”. Khánh Ly thu thanh lần đầu tiên vào mùa Xuân 1976, ông Lê Văn của đài VOA phỏng vấn Khánh Ly và tôi, rồi sau đó phát thanh bài này về VN vào tháng Tư, 1976 nhân dịp kỷ niệm 1 năm ngày Sài Gòn sụp đổ!<br />
<br />
Vào tháng Tư, 1978 đài truyền hình KSCI-Channel 18 tại Los Angeles đã dành cho hội Nghệ Sĩ VN và cộng đồng Người Việt California một chương trình kỷ niệm 3 năm ngày xa xứ, có tên là Giao Chỉ, do hai tài tử Lê Quỳnh và Kiều Chinh giới thiệu, Khánh Ly đã trình bầy ca khúc “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!” của tôi lần đầu tiên trên hệ thống truyền hình." (Hết trích).<br />
<br />
Qua lời kể của chính tác giả nhạc sĩ Nam Lộc mà tôi trích dẫn ở trên, cho thấy nhạc phẩm “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!” ra đời sớm nhất, nổi tiếng cũng sớm nhất tại hải ngoại sau 1975. Đó là một nhạc phẩm bất hủ đã từng làm lay động hàng triệu con tim trên thế giới, đã xác định tên tuổi sáng chói của tác giả Nam Lộc là một nhạc sĩ tài năng. Trong cuốn sách "Lịch sử tân nhạc Việt Nam" tác giả nhạc sĩ Trần Quang Hải đã nhận định như sau:<br />
<br />
"Bài thành công nhứt trong giai đoạn đầu của di tản (1975-1980) là bài Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt".<br />
Ngoài vai trò nhạc sĩ sáng tác, Nam Lộc còn là một ca sĩ trình diễn nổi tiếng bởi giọng nam trầm, hát rõ mồn một từng lời, về độ trầm ấm thì cũng khó có ai qua.<br />
<br />
II. LỜI NHẠC LÀ MỘT BÀI THƠ TUYỆT BÚT:<br />
<br />
Theo tôi, lời nhạc 'Sài gòn ơi! Vĩnh biệt' là một bài thơ tuyệt bút có giá trị về lịch sử, văn chương; nội dung phản ảnh tâm hồn đau thương của tác giả và của người VN tị nạn xứ người, là chứng nhân của một giai đoạn lịch sử VN đau thương, cho thấy ca nhạc sĩ Nam Lộc còn là một nhà thơ có tâm hồn phong phú, nhạy cảm và lãng mạn.<br />
<br />
Lời nhạc hay đẹp từng câu từng chữ, là một bài thơ gồm 19 câu trữ tình lãng mạn đầy cảm xúc/ soi sáng, có ngôn ngữ hình ảnh rất chân thật, đẹp, mới lạ, có lối dùng chữ táo bạo, có vần điệu nhịp nhàng vần nhau răm rắp.<br />
<br />
Năm chữ tựa đề 'Sài gòn ơi! Vĩnh biệt' nghe rất tình cảm rất hay, bao quát nói lên ý chính của nội dung.<br />
Ba chữ "Sài Gòn ơi" nghe thân thương, trân quý, nhân bản... nhưng cũng đầy ai oán não nùng, cô đơn sầu héo, như tiếng chim kêu trong bão táp, tiếng vượn hú trong rừng vắng, hay tiếng gào thống thiết của con thú hoang lạc đàn:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Tôi giờ như con thú hoang lạc đàn</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Từng ngày qua, từng kiếp sống quên thời gian</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Kiếp tha hương, lắm đau thương, lắm chua cay</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Tôi gọi tên ai mãi thôi"</span></span><br />
<br />
Sài Gòn được nhân cách hoá bằng chữ "người", hay chữ "người tình" thật quá tuyệt vời:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Sài Gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời"</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Sài Gòn ơi, tôi xin hứa rằng tôi trở về</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Người tình ơi, tôi xin giữ trọn mãi lời thề"</span></span><br />
<br />
Những chữ "nát", "sầu đắng", "con thú hoang" dùng rất táo bạo, là những chữ đắc chữ thần, có khả năng bùa chú làm lay động, sững sờ, chết lặng bao tâm hồn:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Những nụ cười nát trên môi</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Những giọt lệ ôi sầu đắng"</span></span><br />
<br />
Hay:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Tôi giờ như con thú hoang lạc đàn</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Từng ngày qua, từng kiếp sống quên thời gian"</span></span><br />
<br />
Sau đây là 5 câu trữ tình lãng mạn và đẹp tuyệt vời dành cho Sài Gòn, không thể nào viết hay hơn:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Sài Gòn ơi, nắng vẫn có còn vương trên đường</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Đường ngày xưa, mưa có ướt ngập lối người về</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Rồi mùa thu, lá còn đổ xuống công viên</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Hay đang khóc thương cho người yêu"</span></span><br />
<br />
Bài thơ thăng hoa ở khổ cuối, dù hoàn cảnh nào, tác giả vẫn giữ tấm lòng son sắt chung thuỷ với Sài Gòn với quê hương:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Sài Gòn ơi, tôi xin hứa rằng tôi trở về</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Người tình ơi, tôi xin giữ trọn mãi lời thề</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Dù thời gian, có là một thoáng đam mê</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Phố phường vạn ánh sao đêm</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên"</span></span><br />
<br />
Lời nhạc đúng là lời thơ! Toàn bài chỉ có 19 câu mà ý tình quá sâu sắc, phong phú, cảm động, là nỗi niềm riêng của anh thanh niên có lý tưởng đam mê văn chương âm nhạc, thích sinh hoạt xã hội, năng nỗ tràn đầy nhiệt huyết, nhưng định mệnh bắt phải lìa bỏ quê hương yêu dấu để đến một phương trời vô định. Tâm trạng hoang mang, bàng hoàng, chất chứa bao nỗi buồn đau, u uất, lẻ loi.<br />
Chính cơn dâu bể của thời đại đã làm đổ vỡ mọi ước mơ trong lòng tác giả. Chính biến cố lịch sử đã bắt tác giả phải đối diện với bi kịch gia đình tan tác, quê hương chia lìa...<br />
<br />
Bên cạnh nỗi đau riêng của một tâm hồn nghệ sĩ đầy cảm xúc, ta vẫn thấy nỗi đau chung của con người thời đại. Trái tim người nghệ sĩ tài hoa Nam Lộc không chỉ buồn tủi cho thân phận mình mà còn cho tha nhân, cho Sài Gòn, cho quê hương đất nước.<br />
<br />
Cách nay gần 200 năm, đại thi hào Nguyễn Du đã từng trải, chứng kiến một biến động lịch sử dữ dội tương tự, và đã có một tâm trạng u hoài buồn bã không khác nhà thơ/ ca nhạc sĩ Nam Lộc bây giờ, qua bài thơ chữ Hán sau đây:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Bát muộn</span></span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Thập tải trần ai ám ngọc trừ,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Bách niên thành phủ bán hoang khư.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Yêu ma trùng điểu cao phi tận,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Trĩ uế càn khôn huyết chiến dư.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Tang tử binh tiền thiên lý lệ,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Ngư long lãnh lạc nhàn thu dạ,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Bách chủng u hoài vị nhất sư.</span></span><br />
<br />
Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập (1786-1795)<br />
<br />
Vinh Hồ xin tạm dịch:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Xua nỗi buồn</span></span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Thềm ngọc mười năm cát bụi mờ,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Trăm năm thành phủ nửa hoang sơ.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Loài chim nhỏ, đã bay đi hết,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Huyết chiến qua, trời đất nhuốc nhơ.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Binh lửa quê nhà ngàn dặm lệ,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Dưới đèn bằng hữu mấy dòng thơ.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Cá rồng lặng lẽ đêm thu vắng,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Trăm mối u hoài dạ ngẩn thơ.</span></span><br />
<br />
Nguyễn Du<br />
<br />
III. HAI TIẾNG SÀI SÒN VẪN CÒN VANG VỌNG DÙ ĐÃ MẤT TÊN:<br />
<br />
Năm 1975, tác giả Nam Lộc di tản bỏ lại sau lưng: Sài Gòn trong cơn hấp hối và bao người thân yêu đang đối diện với đau thương, mất mát, chia lìa...<br />
Khi chiếc phi cơ di tản cất cánh, nhìn qua cửa kính, Sài Gòn mờ dần trong bóng đêm, leo lét những ngọn đèn, nhạt nhòa trong nước mắt, tác giả Nam Lộc không thể không thốt lên câu:<br />
-Sài Gòn ơi vĩnh biệt!<br />
<br />
Chính 5 chữ này đã thai nghén hình thành ra đời đứa con tinh thần sau này và 5 chữ này cũng được dùng để làm tựa đề. Thật là một điều lạ lùng kỳ diệu và bất khả tư nghị!<br />
Đến hôm nay sau gần nửa thế kỷ dài, thời gian tuy có nguôi ngoai, nhưng 'Sài Gòn ơi! vĩnh biệt' vẫn còn vang vọng trong suốt chiều dài lịch sử đau buồn, dù Sài Gòn đã mất tên.<br />
Dù Sài Gòn đã mất tên, nhưng hai chữ/ hai tiếng Sài Gòn vẫn còn đó, vang vọng, hiện hữu đầy sinh động trong nhạc phẩm 'Sài Gòn ơi! vĩnh biệt'. Hai chữ/ hai tiếng Sài Gòn đã được nhắc đi nhắc lại tới 5 lần trong bản nhạc.<br />
Ôi cảm động biết bao!<br />
<br />
Tôi viết bài này muốn nói lên cảm nhận chân thành của mình về nhạc phẩm 'Sàigòn Ơi! Vĩnh Biệt' của nhạc sĩ Nam Lộc, bài hát mà tôi hằng yêu thích, hâm mộ và cho là tuyệt tác.<br />
<br />
Mỗi lần nghe các giọng ca Khánh Ly, Nam Lộc, Ngọc Lan... cất lên, tôi đều xúc động, bồi hồi, nghẹn ngào, thắt nghẹn... như thể nước mắt đang chảy ngược vào lòng, tôi cảm thấy mình được an ủi rất nhiều vì tôi cũng là một thanh niên cùng thế hệ cùng hoàn cảnh với tác giả, cũng đã bỏ nước ra đi...<br />
<br />
Tôi muốn cám ơn ông, người nhạc sĩ tài hoa suốt đời vì âm nhạc, vì tha nhân, vì quê hương đất nước.<br />
Xin chúc ông và gia đình dồi dào sức khoẻ, vạn sự an khang.<br />
<br />
VINH HỒ<br />
Apr. 28/4/2022<br />
<br />
TÀI LIỆU THAM KHẢO:<br />
Nguồn Net:<br />
-Nam Lộc<br />
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia<br />
<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_L%E1%BB%99c?fbclid=IwAR3quANyzUqGYn5o8ScXeMnbGkIrgQe11g2cUwpEPZtn3EVZ3ftAQXM&#8203;n3Ow" target="_blank">https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_L%E1%B...ftAQXMn3Ow</a><br />
<br />
-Nam Lộc: MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ<br />
<br />
<a href="https://t-van.net/nam-loc-moi-ngay-mot-ca-khuc-tuong-niem-30-thang-tu-11/?fbclid=IwAR1PxAGiZraw9kJ8L9CayboJSXXDIUQ9_Vm4ZwCxPNRiGuonYsHCbIkL92M" target="_blank">https://t-van.net/nam-loc-moi-ngay-mot-c...sHCbIkL92M</a><br />
<br />
Lịch Sử Tân Nhạc Việt Nam, Trần Quang Hải<br />
chrome-extension://efaidnbmnnnibpcajpcglclefindmkaj/https://petruskyaus.files.wordpress.com/2020/05/ds-pk-uc-chau-03-lich-su-tan-nhac-viet-nam.pdf?fbclid=IwAR2Zxcn2H9ej0_b7AGyKgH6NoJIPgMvlIWux1xSK_3sA_YCqSEaAMT2uESU<br />
<br />
-Lời bài hát: Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt của nhạc sĩ NAM LỘC:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Sài Gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Những nụ cười nát trên môi</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Những giọt lệ ôi sầu đắng</span></span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Sài Gòn ơi, nắng vẫn có còn vương trên đường</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Đường ngày xưa, mưa có ướt ngập lối người về</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Rồi mùa thu, lá còn đổ xuống công viên</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Hay đang khóc thương cho người yêu</span></span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Tôi giờ như con thú hoang lạc đàn</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Từng ngày qua, từng kiếp sống quên thời gian</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Kiếp tha hương, lắm đau thương, lắm chua cay</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Tôi gọi tên ai mãi thôi</span></span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Sài Gòn ơi, tôi xin hứa rằng tôi trở về</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Người tình ơi, tôi xin giữ trọn mãi lời thề</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Dù thời gian, có là một thoáng đam mê</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Phố phường vạn ánh sao đêm</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên</span></span><br />
<br />
Nhạc sĩ NAM LỘC<br />
====<br />
-Ảnh: nguồn Net:<br />
Ảnh nhạc sĩ Nam Lộc tại trại Pendleton, California năm 1975.<br />
<br />
<a href="https://hosting.photobucket.com/images/s341/anna4907/342435851_6233786750011385_5950724374457277083_n.jpg" target="_blank"><img src="https://hosting.photobucket.com/images/s341/anna4907/342435851_6233786750011385_5950724374457277083_n.jpg" border="0" alt="[Image: 342435851_6233786750011385_5950724374457277083_n.jpg]" /></a><span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;"><br />
</span></span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[LỜI NHẠC "SÀI GÒN ƠI! VĨNH BIỆT" LÀ MỘT BÀI THƠ TUYỆT BÚT<br />
(Bài viết của Vinh Hồ)<br />
<br />
I. "SÀI GÒN ƠI! VĨNH BIỆT" LÀ NHẠC PHẨM RA ĐỜI ĐẦU TIÊN VÀ NỔI TIẾNG SỚM NHẤT TẠI HẢI NGOẠI SAU 1975:<br />
<br />
Trước ngày thất thủ, Sài Gòn căng như sợi dây đàn. Ngày 26/4/1975, nhạc sĩ Nam Lộc rất tình cờ, đã được một ân nhân chở lên phi trường Tân Sơn Nhất, lúc đó đã có cả ngàn người VN chen chúc bên ngoài trụ sở cơ quan DAO chờ gọi tên lên máy bay di tản sang Hoa Kỳ.<br />
Rạng sáng ngày 28/4/1975, NS Nam Lộc lên chiếc máy bay C-130 sang HK. Sang HK, ông sáng tác nhạc phẩm “Sài Gòn ơi, vĩnh biệt” ra sao? nhạc phẩm đã đến với khán thính giả thế nào? Tất cả đã được ông kể lại rất hấp dẫn ly kỳ như chuyện cổ tích, xin mời đọc link sau:<br />
<br />
<a href="https://t-van.net/nam-loc-moi-ngay-mot-ca-khuc-tuong-niem-30-thang-tu-11/?fbclid=IwAR1PxAGiZraw9kJ8L9CayboJSXXDIUQ9_Vm4ZwCxPNRiGuonYsHCbIkL92M" target="_blank">https://t-van.net/nam-loc-moi-ngay-mot-c...sHCbIkL92M</a><br />
<br />
Tôi xin phép được trích nguyên văn một đoạn:<br />
"12:45 sáng, 28 tháng Tư, 1975, phi cơ cất cánh, nhìn ra ngoài cửa sổ, Sài Gòn mờ dần trong bóng đêm, leo lét những ánh đèn, nhạt nhòa trong nước mắt, tôi thốt lên “Sài Gòn ơi, vĩnh biệt”, rồi cùng khóc với mọi người. Có ngờ đâu đó chính là tựa đề nhạc phẩm đầu tiên mà tôi sẽ sáng tác tại hải ngoại! Nó cũng đã được “thai nghén” vào những ngày cô đơn, sầu tủi trong trại tỵ nạn Pendleton.<br />
Tôi còn nhớ đã hát thử cho Trung Hành nghe trong căn lều vải, nằm dưới thung lũng buồn của trại. Chỉ vừa có vài câu đầu thôi mà hắn đã khóc như một đứa trẻ, đâu biết rằng tôi mới viết chưa xong được đến một nửa bài. Cho mãi đến sau này, khi xuất trại, thật sự đối diện với cuộc sống lưu vong, đầy gian truân, mồ hôi và nước mắt với bao nhọc nhằn, tủi nhục trong thời gian đầu, cộng với nỗi thương nhớ gia đình. Vào giữa tháng 11, 1975 tôi mới hoàn tất nhạc phẩm “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!”. Khánh Ly thu thanh lần đầu tiên vào mùa Xuân 1976, ông Lê Văn của đài VOA phỏng vấn Khánh Ly và tôi, rồi sau đó phát thanh bài này về VN vào tháng Tư, 1976 nhân dịp kỷ niệm 1 năm ngày Sài Gòn sụp đổ!<br />
<br />
Vào tháng Tư, 1978 đài truyền hình KSCI-Channel 18 tại Los Angeles đã dành cho hội Nghệ Sĩ VN và cộng đồng Người Việt California một chương trình kỷ niệm 3 năm ngày xa xứ, có tên là Giao Chỉ, do hai tài tử Lê Quỳnh và Kiều Chinh giới thiệu, Khánh Ly đã trình bầy ca khúc “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!” của tôi lần đầu tiên trên hệ thống truyền hình." (Hết trích).<br />
<br />
Qua lời kể của chính tác giả nhạc sĩ Nam Lộc mà tôi trích dẫn ở trên, cho thấy nhạc phẩm “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!” ra đời sớm nhất, nổi tiếng cũng sớm nhất tại hải ngoại sau 1975. Đó là một nhạc phẩm bất hủ đã từng làm lay động hàng triệu con tim trên thế giới, đã xác định tên tuổi sáng chói của tác giả Nam Lộc là một nhạc sĩ tài năng. Trong cuốn sách "Lịch sử tân nhạc Việt Nam" tác giả nhạc sĩ Trần Quang Hải đã nhận định như sau:<br />
<br />
"Bài thành công nhứt trong giai đoạn đầu của di tản (1975-1980) là bài Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt".<br />
Ngoài vai trò nhạc sĩ sáng tác, Nam Lộc còn là một ca sĩ trình diễn nổi tiếng bởi giọng nam trầm, hát rõ mồn một từng lời, về độ trầm ấm thì cũng khó có ai qua.<br />
<br />
II. LỜI NHẠC LÀ MỘT BÀI THƠ TUYỆT BÚT:<br />
<br />
Theo tôi, lời nhạc 'Sài gòn ơi! Vĩnh biệt' là một bài thơ tuyệt bút có giá trị về lịch sử, văn chương; nội dung phản ảnh tâm hồn đau thương của tác giả và của người VN tị nạn xứ người, là chứng nhân của một giai đoạn lịch sử VN đau thương, cho thấy ca nhạc sĩ Nam Lộc còn là một nhà thơ có tâm hồn phong phú, nhạy cảm và lãng mạn.<br />
<br />
Lời nhạc hay đẹp từng câu từng chữ, là một bài thơ gồm 19 câu trữ tình lãng mạn đầy cảm xúc/ soi sáng, có ngôn ngữ hình ảnh rất chân thật, đẹp, mới lạ, có lối dùng chữ táo bạo, có vần điệu nhịp nhàng vần nhau răm rắp.<br />
<br />
Năm chữ tựa đề 'Sài gòn ơi! Vĩnh biệt' nghe rất tình cảm rất hay, bao quát nói lên ý chính của nội dung.<br />
Ba chữ "Sài Gòn ơi" nghe thân thương, trân quý, nhân bản... nhưng cũng đầy ai oán não nùng, cô đơn sầu héo, như tiếng chim kêu trong bão táp, tiếng vượn hú trong rừng vắng, hay tiếng gào thống thiết của con thú hoang lạc đàn:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Tôi giờ như con thú hoang lạc đàn</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Từng ngày qua, từng kiếp sống quên thời gian</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Kiếp tha hương, lắm đau thương, lắm chua cay</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Tôi gọi tên ai mãi thôi"</span></span><br />
<br />
Sài Gòn được nhân cách hoá bằng chữ "người", hay chữ "người tình" thật quá tuyệt vời:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Sài Gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời"</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Sài Gòn ơi, tôi xin hứa rằng tôi trở về</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Người tình ơi, tôi xin giữ trọn mãi lời thề"</span></span><br />
<br />
Những chữ "nát", "sầu đắng", "con thú hoang" dùng rất táo bạo, là những chữ đắc chữ thần, có khả năng bùa chú làm lay động, sững sờ, chết lặng bao tâm hồn:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Những nụ cười nát trên môi</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Những giọt lệ ôi sầu đắng"</span></span><br />
<br />
Hay:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Tôi giờ như con thú hoang lạc đàn</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Từng ngày qua, từng kiếp sống quên thời gian"</span></span><br />
<br />
Sau đây là 5 câu trữ tình lãng mạn và đẹp tuyệt vời dành cho Sài Gòn, không thể nào viết hay hơn:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Sài Gòn ơi, nắng vẫn có còn vương trên đường</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Đường ngày xưa, mưa có ướt ngập lối người về</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Rồi mùa thu, lá còn đổ xuống công viên</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Hay đang khóc thương cho người yêu"</span></span><br />
<br />
Bài thơ thăng hoa ở khổ cuối, dù hoàn cảnh nào, tác giả vẫn giữ tấm lòng son sắt chung thuỷ với Sài Gòn với quê hương:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">"Sài Gòn ơi, tôi xin hứa rằng tôi trở về</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Người tình ơi, tôi xin giữ trọn mãi lời thề</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Dù thời gian, có là một thoáng đam mê</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Phố phường vạn ánh sao đêm</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên"</span></span><br />
<br />
Lời nhạc đúng là lời thơ! Toàn bài chỉ có 19 câu mà ý tình quá sâu sắc, phong phú, cảm động, là nỗi niềm riêng của anh thanh niên có lý tưởng đam mê văn chương âm nhạc, thích sinh hoạt xã hội, năng nỗ tràn đầy nhiệt huyết, nhưng định mệnh bắt phải lìa bỏ quê hương yêu dấu để đến một phương trời vô định. Tâm trạng hoang mang, bàng hoàng, chất chứa bao nỗi buồn đau, u uất, lẻ loi.<br />
Chính cơn dâu bể của thời đại đã làm đổ vỡ mọi ước mơ trong lòng tác giả. Chính biến cố lịch sử đã bắt tác giả phải đối diện với bi kịch gia đình tan tác, quê hương chia lìa...<br />
<br />
Bên cạnh nỗi đau riêng của một tâm hồn nghệ sĩ đầy cảm xúc, ta vẫn thấy nỗi đau chung của con người thời đại. Trái tim người nghệ sĩ tài hoa Nam Lộc không chỉ buồn tủi cho thân phận mình mà còn cho tha nhân, cho Sài Gòn, cho quê hương đất nước.<br />
<br />
Cách nay gần 200 năm, đại thi hào Nguyễn Du đã từng trải, chứng kiến một biến động lịch sử dữ dội tương tự, và đã có một tâm trạng u hoài buồn bã không khác nhà thơ/ ca nhạc sĩ Nam Lộc bây giờ, qua bài thơ chữ Hán sau đây:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Bát muộn</span></span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Thập tải trần ai ám ngọc trừ,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Bách niên thành phủ bán hoang khư.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Yêu ma trùng điểu cao phi tận,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Trĩ uế càn khôn huyết chiến dư.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Tang tử binh tiền thiên lý lệ,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Ngư long lãnh lạc nhàn thu dạ,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Bách chủng u hoài vị nhất sư.</span></span><br />
<br />
Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập (1786-1795)<br />
<br />
Vinh Hồ xin tạm dịch:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Xua nỗi buồn</span></span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Thềm ngọc mười năm cát bụi mờ,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Trăm năm thành phủ nửa hoang sơ.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Loài chim nhỏ, đã bay đi hết,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Huyết chiến qua, trời đất nhuốc nhơ.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Binh lửa quê nhà ngàn dặm lệ,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Dưới đèn bằng hữu mấy dòng thơ.</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Cá rồng lặng lẽ đêm thu vắng,</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Trăm mối u hoài dạ ngẩn thơ.</span></span><br />
<br />
Nguyễn Du<br />
<br />
III. HAI TIẾNG SÀI SÒN VẪN CÒN VANG VỌNG DÙ ĐÃ MẤT TÊN:<br />
<br />
Năm 1975, tác giả Nam Lộc di tản bỏ lại sau lưng: Sài Gòn trong cơn hấp hối và bao người thân yêu đang đối diện với đau thương, mất mát, chia lìa...<br />
Khi chiếc phi cơ di tản cất cánh, nhìn qua cửa kính, Sài Gòn mờ dần trong bóng đêm, leo lét những ngọn đèn, nhạt nhòa trong nước mắt, tác giả Nam Lộc không thể không thốt lên câu:<br />
-Sài Gòn ơi vĩnh biệt!<br />
<br />
Chính 5 chữ này đã thai nghén hình thành ra đời đứa con tinh thần sau này và 5 chữ này cũng được dùng để làm tựa đề. Thật là một điều lạ lùng kỳ diệu và bất khả tư nghị!<br />
Đến hôm nay sau gần nửa thế kỷ dài, thời gian tuy có nguôi ngoai, nhưng 'Sài Gòn ơi! vĩnh biệt' vẫn còn vang vọng trong suốt chiều dài lịch sử đau buồn, dù Sài Gòn đã mất tên.<br />
Dù Sài Gòn đã mất tên, nhưng hai chữ/ hai tiếng Sài Gòn vẫn còn đó, vang vọng, hiện hữu đầy sinh động trong nhạc phẩm 'Sài Gòn ơi! vĩnh biệt'. Hai chữ/ hai tiếng Sài Gòn đã được nhắc đi nhắc lại tới 5 lần trong bản nhạc.<br />
Ôi cảm động biết bao!<br />
<br />
Tôi viết bài này muốn nói lên cảm nhận chân thành của mình về nhạc phẩm 'Sàigòn Ơi! Vĩnh Biệt' của nhạc sĩ Nam Lộc, bài hát mà tôi hằng yêu thích, hâm mộ và cho là tuyệt tác.<br />
<br />
Mỗi lần nghe các giọng ca Khánh Ly, Nam Lộc, Ngọc Lan... cất lên, tôi đều xúc động, bồi hồi, nghẹn ngào, thắt nghẹn... như thể nước mắt đang chảy ngược vào lòng, tôi cảm thấy mình được an ủi rất nhiều vì tôi cũng là một thanh niên cùng thế hệ cùng hoàn cảnh với tác giả, cũng đã bỏ nước ra đi...<br />
<br />
Tôi muốn cám ơn ông, người nhạc sĩ tài hoa suốt đời vì âm nhạc, vì tha nhân, vì quê hương đất nước.<br />
Xin chúc ông và gia đình dồi dào sức khoẻ, vạn sự an khang.<br />
<br />
VINH HỒ<br />
Apr. 28/4/2022<br />
<br />
TÀI LIỆU THAM KHẢO:<br />
Nguồn Net:<br />
-Nam Lộc<br />
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia<br />
<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_L%E1%BB%99c?fbclid=IwAR3quANyzUqGYn5o8ScXeMnbGkIrgQe11g2cUwpEPZtn3EVZ3ftAQXM&#8203;n3Ow" target="_blank">https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_L%E1%B...ftAQXMn3Ow</a><br />
<br />
-Nam Lộc: MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ<br />
<br />
<a href="https://t-van.net/nam-loc-moi-ngay-mot-ca-khuc-tuong-niem-30-thang-tu-11/?fbclid=IwAR1PxAGiZraw9kJ8L9CayboJSXXDIUQ9_Vm4ZwCxPNRiGuonYsHCbIkL92M" target="_blank">https://t-van.net/nam-loc-moi-ngay-mot-c...sHCbIkL92M</a><br />
<br />
Lịch Sử Tân Nhạc Việt Nam, Trần Quang Hải<br />
chrome-extension://efaidnbmnnnibpcajpcglclefindmkaj/https://petruskyaus.files.wordpress.com/2020/05/ds-pk-uc-chau-03-lich-su-tan-nhac-viet-nam.pdf?fbclid=IwAR2Zxcn2H9ej0_b7AGyKgH6NoJIPgMvlIWux1xSK_3sA_YCqSEaAMT2uESU<br />
<br />
-Lời bài hát: Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt của nhạc sĩ NAM LỘC:<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Sài Gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Những nụ cười nát trên môi</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Những giọt lệ ôi sầu đắng</span></span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Sài Gòn ơi, nắng vẫn có còn vương trên đường</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Đường ngày xưa, mưa có ướt ngập lối người về</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Rồi mùa thu, lá còn đổ xuống công viên</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Hay đang khóc thương cho người yêu</span></span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Tôi giờ như con thú hoang lạc đàn</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Từng ngày qua, từng kiếp sống quên thời gian</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Kiếp tha hương, lắm đau thương, lắm chua cay</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Tôi gọi tên ai mãi thôi</span></span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Sài Gòn ơi, tôi xin hứa rằng tôi trở về</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Người tình ơi, tôi xin giữ trọn mãi lời thề</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Dù thời gian, có là một thoáng đam mê</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Phố phường vạn ánh sao đêm</span></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;">Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên</span></span><br />
<br />
Nhạc sĩ NAM LỘC<br />
====<br />
-Ảnh: nguồn Net:<br />
Ảnh nhạc sĩ Nam Lộc tại trại Pendleton, California năm 1975.<br />
<br />
<a href="https://hosting.photobucket.com/images/s341/anna4907/342435851_6233786750011385_5950724374457277083_n.jpg" target="_blank"><img src="https://hosting.photobucket.com/images/s341/anna4907/342435851_6233786750011385_5950724374457277083_n.jpg" border="0" alt="[Image: 342435851_6233786750011385_5950724374457277083_n.jpg]" /></a><span style="font-family: inherit;"><span style="font-style: italic;"><br />
</span></span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Hello Cả Nhà]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8124</link>
			<pubDate>Mon, 20 Mar 2023 17:20:20 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8124</guid>
			<description><![CDATA[Chào Cả Nhà<br />
cho em hỏi, nếu mình đi từ DFW đến Cali (Phước Lôc Thọ, thì đi sân bay Santa Ana là gần hơn so với LA X đúng không mấy chị?]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Chào Cả Nhà<br />
cho em hỏi, nếu mình đi từ DFW đến Cali (Phước Lôc Thọ, thì đi sân bay Santa Ana là gần hơn so với LA X đúng không mấy chị?]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ - Phạm Tín An Ninh]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8121</link>
			<pubDate>Sun, 05 Mar 2023 04:08:31 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8121</guid>
			<description><![CDATA[Phạm Tín An Ninh<br />
<br />
Tôi xin mượn tên một bài hát của cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm tựa cho bài viết có lẽ không đâu vào đâu này, để cám ơn chị bạn Ninh Hòa có cái họ vừa đẹp vừa buồn – Lương Lệ - đã hát tặng trong đêm đầu tiên chúng tôi vừa trở lại quê nhà, ở cái quán cà phê mang tên khá lạ: Hòn Kiến, nằm trong một khu vắng vẻ trên con đường Bạch Đằng quen thuộc của một thời tôi còn lang thang đi học ở Nha Trang. Bài hát dù hay nhưng xưa cũ lắm, tôi đã nghe rất nhiều lần, đến gần như không còn cảm xúc. Nhưng hôm nay ngồi nghe chị hát mà lòng chợt ngậm ngùi. Bởi vì chính bây giờ đây, tôi đã trở về và đang đi trên những con đường xưa lối cũ ấy.<br />
<br />
Không ngờ chị hát thật hay, thật truyền cảm. Tôi nghe tên chị từ lâu lắm, nhưng hôm nay lần đầu tôi gặp chị. Tôi mới chợt nghĩ ra rằng, ở Ninh Hòa, cái họ Lương này, dù ở Phú Hòa hay là ở Xóm Rượu gì cũng đã từng vang bóng một thời, đã từng làm khổ biết bao chàng, từ thư sinh đến anh hùng hào kiệt. Bà xã tôi thường nhắc tên một cô bạn thân, cùng lớp, cùng đội múa Trăng Mường Luông ngày xưa, đẹp và hiền như ma soeur, nhưng bất cứ lúc nào cũng có thể khóc được. Hỏi ra thì cô nàng có cái tên Lương Lệ Bích San. Tôi bảo, cô ấy dễ khóc là phải, vì trong cái tên lúc nào cũng đã có sẵn cả một dòng nước mắt.<br />
Đêm nay cũng có Bích San và ông xã. Anh ngồi bên tôi, rất hiền lành, chỉ mỉm cười, ít nói, thì thầm đọc cho tôi mấy câu thơ về một chuyện tình buồn. Anh làm thơ hay lắm nhưng cho tôi cái cảm giác là cuộc tình của hai người ngày xưa cũng có cả một trời sóng gió. Trước năm 75, anh là giáo sư của vài trường trung học ở Ninh Hòa, nhưng bây giờ anh làm một việc giống như một “cai trường”, sống âm thầm lặng lẽ ở Nha Trang. Chị bạn hát tặng chúng tôi bài hát mừng hội ngộ tối nay, chắc lúc xưa cũng đã từng làm dại khờ bao nhiêu trái tim của đám học trò lẫn các ông thầy Trần Bình Trọng, Võ Tánh.<br />
<br />
Được tin bà già vợ đau rất nặng, phải vào nhà thương trong tình trạng rất nguy ngập mà không ai chăm sóc, nể tình bà vợ Ninh Hòa, tôi tháp tùng một chuyến cố hương. Lần đầu tiên sau hơn ba mươi năm, bất ngờ được ăn một cái Tết quê nhà.<br />
Đêm giao thừa, nằm ở Ninh Hòa mà thấy lòng buồn bát ngát một mùa thu. Có lẽ, tuổi đã già nên không còn cái nao nức của thời xưa, hay là còn cái cảm giác quê hương mình sao vẫn còn xa lạ quá.<br />
Ngay trước nhà là một chợ hoa, nhiều nhất là hoa cúc với hoa mai. Dường như hai loại hoa này đang mang mùa xuân đến cho Ninh Hòa. Sắp đến giờ giao thừa mà hoa vẫn còn đầy ngoài đường, trước ngõ. Người ta phải bán với cái giá chỉ để khỏi phải trả tiền chuyên chở lại về nhà trên các vùng như Quang Đông, Chấp Lễ. Tội nghiệp, những người trồng hoa có lẽ đã phải vất vả suốt cả năm, để mang mùa Xuân đến cho mọi nhà, nhưng rồi không biết mùa Xuân có đến được nhà của chính họ hay không?<br />
<br />
Sáng mồng một Tết, dự định ghé lại thăm một vài người quen, nhưng ngại có người kiêng cữ. Một kẻ lưu lạc tha phương xông đất biết đâu lại là cái điềm chia lìa nào đó. Nên cuối cùng đón xe lửa trở lại Nha Trang để tìm một chút yên bình. Đi xe lửa bây giờ là điều thú vị, vừa được ngắm cảnh núi non đồng ruộng, vừa được nghe toàn những bản nhạc”vàng” tình ca của miền Nam thuở trước và nhớ lại cái thời vào trọ học Nha Trang , cuối tuần chỉ toàn đi xe lửa “cọp”.<br />
Nha Trang, dù có cái gì xa lạ nhưng lúc nào cũng đẹp. Đẹp để đủ cho lòng người ta nuối tiếc mông lung. Bởi ngồi trước biển Nha Trang mà tâm tư cứ mơ hồ giữa cái còn và cái mất, giữa ngày xưa với bây giờ. Cái nhớ nhất, sâu lắng nhất còn lại trong lòng là kỷ niệm của một thời đi học, của những mối tình học trò vụng dại dễ thương.<br />
Niềm vui là tìm gặp được những bạn bè cùng lớp ngày xưa để còn thấy mình trẻ lại. Nhưng vui đó rồi buồn đó. Bởi bây giờ ai cũng đã già và mỗi người một số kiếp long đong.<br />
<br />
Một thằng bạn cùng học ba năm cuối cùng ở trường Võ Tánh, to con, đẹp trai và học giỏi. Sau này cũng là bạn lính. Ở tù hơn bảy năm nên bạn bè ai cũng nghĩ là nó đã đi diện HO và đang nổi trôi nơi nào trên nước Mỹ, không ngờ còn gặp lại nó ở Nha Trang.<br />
<br />
Sau sáu tháng nó vào tù, cô vợ “Bắc Kỳ nho nhỏ” mang ba đứa con (mà đứa lớn nhất mới vừa năm tuổi) giao cho bà nội ở trên Thành, Diên Khánh, rồi sang sông… về đâu đó, không bao giờ trở lại thăm con. Bà nội thì già, mấy đứa nhỏ bấu víu vào ông chú, vừa tốt nghiệp kỹ sư Nông Lâm Súc, nhưng bởi có ông anh là “ngụy đang cải tạo”, nên được chức phụ hồ cho một ông thợ nề là bác họ.<br />
<br />
Trong lúc phụ hồ xây dựng một bệnh viện, anh làm quen được một chị đầu bếp của bệnh viện. Không biết tài ăn nói thế nào mà anh làm cô đầu bếp động lòng trắc ẩn, thương cảm hoàn cảnh mấy đứa cháu dại không mẹ không cha. Cô sẵn sàng làm mẹ nuôi. Với tất cả tiền bạc và tấm lòng, cô đã cưu mang ba đứa bé còn hơn cả một người mẹ. Ba đứa nhỏ lớn lên cứ tưởng cô là mẹ. Cái tình mẫu tử này sao mà hiếm hoi và bi tráng quá. Thì ra trong cái thời nhá nhem tình nghĩa ấy vẫn còn có những tấm lòng hơn cả chữ từ bi viết trong mấy ngôi chùa.<br />
<br />
Bảy năm sau, thằng bạn tôi được thả về, cúi mình trước người con gái lần đầu tiên gặp mặt để xin lạy một lạy tạ ơn. Cô nắm tay ngăn lại. Đúng giây phút ấy, bốn mắt nhìn nhau và cùng rơi lệ. Họ ôm nhau và yêu nhau rồi lấy nhau… Hôm gặp chị, tôi tò mò hỏi lý do nào chị yêu và lấy thằng bạn khốn cùng của tôi trong lúc chị còn con gái. Chị cho biết vì không thể rời xa ba đứa nhỏ mà chị cứ tưởng là con ruột của chính mình. Chính cái tình thương gắn bó mấy đứa nhỏ mà chị trở thành vợ của ba nó. Còn tôi thì lại mơ màng suy ngẫm đến hai chữ duyên nợ của đất trời.<br />
<br />
Sau này chị làm đầu bếp cho một nhà hàng ở bờ biển Nha Trang. Thằng bạn tôi và mấy đứa con vẫn sống trên Thành, vì với cái lý lịch đen, không thể xin được cái hộ khẩu về thành phố. Còn chị vợ thì tiếc cái hộ khẩu ở thành phố, mà không muốn chuyển lên Diên Khánh. Mặc dù ban ngày làm ở Nha Trang nhưng tới tối là chị chạy xe Honda về với chồng con.<br />
<br />
Cũng chính vì cái “hộ khẩu” mỗi người một nơi ấy, mà khi thằng bạn của tôi nộp đơn xin đi theo diện HO, bị phái đoàn Mỹ từ chối, trả lại hồ sơ và xỉ vả một trận, vì nghĩ chị vợ tốt bụng này chỉ là vợ giả, trả tiền cho nó để được bỏ nước ra đi. Chuyện tình ngay mà lý gian ấy cũng đã làm vợ chồng tốn kém và khốn khổ một thời. Sau mấy lần khiếu nại, cái ân sủng cuối cùng là: chỉ có người cha và ba đứa con được ra đi vào đợt cuối HO. Còn chị vợ sẽ vĩnh viễn không bao giờ được bước chân đến Mỹ. Bạn tôi quyết định ở lại với người vợ ân tình, mà anh coi như ông trời đã sai xuống dương trần này để gánh vác cho mấy cha con.<br />
<br />
Bây giờ ba đứa con đã là người lớn. Thằng bạn tôi ở nhà chăm sóc ngôi từ đường, nuôi mấy con heo và nấu cơm cho con cho vợ. Chị ấy vẫn làm ở khách sạn dưới Nha Trang. Hôm đứa con gái lớn lấy chồng, chị khuyên mãi thằng bạn tôi mới báo tin cho bà mẹ ruột bạc tình, bây giờ đang lấy một ông chồng người Thụy Sĩ. Bà ấy cũng vác bộ mặt đầy son phấn trở về. Nhưng đứa con gái chỉ cho bà đến nhà hàng dự tiệc mà từ chối sự hiện diện của bà trong hôn lễ. Con bé bảo rằng, bà chỉ là một cái máy đẻ ra tôi, nhưng mẹ tôi chính là vợ của ba tôi bây giờ.<br />
<br />
Tôi rót một ly rượu mừng cho cả cái vô phúc lẫn cái diễm phúc của thằng bạn cũ, nhưng rót đến hai ly để mời vợ nó. Một ly mừng và một ly để nói hộ giùm tôi lòng biết ơn và ngưỡng mộ.<br />
Tôi quay sang bảo thằng bạn:<br />
– Dường như chính phủ Mỹ vừa cho mở lại diện HO, mày thử nộp đơn lại xem sao.<br />
Nó xua tay:<br />
– Tao chẳng cần đi đâu nữa, vì ở đâu có bà vợ tao đây là ở đó có thiên đường.<br />
Tôi đùa:<br />
– Mày nói còn hay hơn mấy ông linh mục trong nhà thờ.<br />
Tôi choàng tay ôm vợ chồng nó mà nước mắt trào ra. Tôi nghĩ, nó vẫn còn tác phong của một thằng lính.<br />
<br />
Một cô bạn học từ năm đệ tứ. Mùa hè năm rồi sang Mỹ thăm cô con gái là ni cô tu ở một ngôi chùa nữ dưới Los Angeles, bất ngờ đọc được bài viết của tôi trong Đặc san Hội ngộ Võ Tánh &amp; Nữ Trung Học Nha Trang, trong đó tôi có nhắc đến tên nàng, rồi lần mò tìm ra tông tích của tôi. Ngày xưa là một cô bé khá xinh và học giỏi. Sau này có thời làm phóng viên chiến trường cho QĐ II. Ông chồng gốc Võ Bị Đà Lạt, chết một tháng trước ngày có chuyến bay theo diện HO. Nàng dắt hai đứa con gái lưu lạc khắp nơi, với một số vốn liếng của mẹ cha để lại. Cuối cùng, khi kinh tế ổn định, mẹ con về mua một ngôi nhà bên cạnh Quan Âm Tự ở Sài Gòn. Cô con gái út vừa học đại học vừa tu học trong chùa. Còn nàng thì tu tại gia và cũng là một nhà thơ.<br />
<br />
Ngồi trên máy bay trở lại Na Uy, tôi đọc hết hai tập thơ của nàng ký tặng lúc chia tay. Nàng làm thơ Đường thật hay và cảm động. Tôi nghĩ, nếu Đức Phật mà đọc được thơ nàng thì cũng phải rơi nước mắt xuống tòa sen.<br />
<br />
Mấy ngày ở Sài Gòn, tôi ghé thăm chị Hà , một người con gái gốc gác “quan họ” nhưng lúc nào cũng nặng lòng với Ninh Hòa. Ông bố ngày xưa là một niên trưởng của tôi trong quân đội, nên ngôi nhà nhỏ, dù là của gia đình đã bao đời, bây giờ vẫn chưa có “sổ đỏ”, trông cũ kỹ nhất trên con đường Minh Mạng xưa, vì không được phép sửa sang lại. Vẫn với nụ cười, từ tốn và lịch thiệp đủ để cho người lạ dễ làm quen và có cảm giác gần gũi thân thiện. Tôi hiểu lý do tại sao, giữa Sài Gòn với những bề bộn trong mấy ngày giáp Tết, bao nhiêu người phải đi ngược về xuôi, vậy mà cuộc họp mặt tất niên của Hội đồng hương Dục Mỹ &amp; Ninh Hòa của chị có đến hơn một trăm người hiện diện. Nghe tôi ghé thăm, có một anh bạn trẻ Ninh Hòa cũng đến chờ tôi. Chính cái cách biệt tuổi tác, cái khoảng cách không gian giữa ngoài và trong nước, lại là một sự gắn bó đến không ngờ. Chúng tôi có biết bao nhiêu điều để nói, từ hoài cảm về một thời xa xưa, đến những buồn vui trăn trở bây giờ.<br />
<br />
Tội nghiệp người bạn trẻ có lòng. Hôm sau, anh xin nghỉ làm nguyên cả buổi sáng… ghé lại khách sạn rủ tôi ra quán cà phê tâm sự. Tôi có cả xót xa và hạnh phúc, khi thấy mình đã già, trí óc có thể đã cằn cỗi, lỗi thời nhưng lại có rất nhiều ưu tư, suy nghĩ rất gần với người bạn trẻ, vừa có lòng vừa có kiến thức này. Những nhận định, từ cái tư cách của ông nhạc sĩ Phạm Duy, những điều đáng buồn của quê hương đất nước: đạo đức xã hội ngày càng bị xói mòn, người ta làm giàu không từ nan bất cứ một thủ đoạn nào, ngay cả bán phụ nữ đi làm nô lệ - kể cả nô lệ tình dục - và bán cả một phần giang sơn đất nước.<br />
<br />
Nói chuyện với anh, tôi chợt nhớ tới cái kết luận của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, khi đọc Le Fils de La Baleine (Kẻ Thừa Tự của Ông Nam Hải), tác phẩm nổi tíếng trên thế giới vào những năm giữa thập niên 50-60, của ông Thầy, nhà văn Cung Giũ Nguyên (nguyên tác bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu ở Pháp năm 1956. Sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng và tái bản ở Đức và Canada): “Người ta tôn vinh, thờ phụng một con Cá Voi chết, nhưng tại sao người ta lại tàn nhẫn với cuộc sống của một con người? – Xin đừng choàng vòng hoa cho một người đã chết và hãy yêu một người đang sống”.<br />
<br />
Chiều hôm qua, trong khi bà vợ Ninh Hòa đi mua sắm, làm tóc làm tai, tôi nằm dài trong hotel đọc hai cuốn sách. Cả hai cuốn sách này tôi đã đọc qua trên mạng, cùng vớí bao ý kiến khen chê từ trong ra ngoài nước: Nhật Ký Đặng Thùy Trâm và tiểu thuyết Bóng Đè. Một cuốn đề cao một nữ bác sĩ hy sinh trong cuộc chiến, mà cuốn nhật ký của cô được kẻ cựu thù là một ông Mỹ vô danh nào đó gìn giữ và trao lại cho gia đình. Tội nghiệp, lại thêm một cái chết nữa bị người ta lợi dụng. Còn cuốn kia nói về hiện tượng một cô gái bị bóng ma của mấy đời nhà chồng: ông, cha, từ trên bàn thờ trong nhà họ, đêm nào cũng xuống đè cô hãm hiếp. Tôi thích cuốn tiểu thuyết này, tác giả là một cô luật sư trẻ ngoài Hà Nội. Dường như báo chí trong nước phê phán gắt gao về những từ ngữ tả chân tình dục. Riêng tôi, tôi thích thú cái ý đằng sau những từ ngữ ấy. Đúng như vậy, có biết bao nhiêu người tuổi trẻ mà tôi biết hay đã gặp, như người bạn trẻ đang ngồi trước mặt tôi đây, với tấm lòng, kiến thức và nhiệt huyết, họ thừa khả năng để đưa đất nước vươn lên. Những cái bóng ma của quá khứ chỉ làm cho họ thêm nặng nề, ngộp thở. Chia tay anh, suốt trên đường về lại hotel… lòng tôi miên man với bao suy tư và hy vọng.<br />
<br />
Ở Nha Trang, bất ngờ gặp vợ chồng cô bạn ở bên con sông Dinh và cây cầu Sắt, học cùng lớp và cũng cùng đội múa với bà vợ Ninh Hòa của tôi ở Trần Bình Trọng, cũng trở về từ một nơi nào đó. Ông bà cứ như là đám mây trên trời. Chợt đến rồi chợt đi. Không biết những nơi hai người đi qua có còn để lại vết tích của một đôi tình nhân sáu mươi khi “con tim đã vui trở lại”?<br />
<br />
Gặp cô bạn thân thiết một thời này, bà xã tôi bèn làm ngay một cuộc họp bạn bỏ túi. Bốn người bạn cùng lớp, trôi nổi mỗi người một cảnh, bây giờ gặp lại nhau, thôi thì tha hồ mày tao mi tớ, và kể đủ thứ chuyện dưới đất trên trời, làm tôi nhớ đến mấy câu thơ “làm chơi” của một ông bạn vong niên:<br />
Một đám con nít sáu mươi<br />
Gặp nhau bỗng thấy nhớ trời đất xưa<br />
Nhớ ngôi trường cũ dưới mưa<br />
Nhớ thầy nhớ bạn nhớ giờ ra chơi<br />
Một đám con nít sáu mươi<br />
Tìm nhau kể chuyện trên trời dưới sông<br />
Trên trời mây nổi mênh mông<br />
Dưới sông bèo dạt bềnh bồng nổi trôi…<br />
<br />
Một người nhắc tới anh bạn “ốm tong teo” cùng lớp, nhà thơ Quan Dương, đang lưu lạc ở New Orleans, vừa bị cơn bão Katrina rượt chạy sang tận Houston -Texas, và cho biết là dường như có một tờ báo trong nước luận (tội) về thơ Quan Dương. Tôi bảo là thơ Quan Dương chỉ kể lại những cái đau của người miền Nam trong những ngày tháng cũ. Có luận thì cũng chỉ thấy… tội nghiệp mà thôi. Đã là con người, lại là một nhà thơ, xin hãy để cho họ nói lên những nỗi niềm tận đáy lòng của họ. Làm thơ cũng chỉ là một sự giải tỏa những niềm đau, những ẩn ức còn ở trong lòng. Chính những ông Văn Cao, Phùng Quán, hai nhà thơ nổi tiếng nhưng đã bị tù đày, tàn tạ gần cả một đời chỉ vì “…muốn làm nhà văn chân thật/ Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã/ Bút giấy tôi ai cướp giật đi/ Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá” cũng đã từng nhờ thơ mà sống còn, bởi “có những lúc ngã lòng,.. nhờ vịn câu thơ mà đứng dậy”. Bây giờ nhà nước đã phải chấp nhận ngợi ca giá trị thơ văn của hai ông, như là một đóng góp quí giá, lớn lao vào sự nghiệp văn hóa chung của dân tộc. Đặc biệt tên Văn Cao đã được dùng đặt tên cho một con đường ngay giữa lòng Hà Nội. Tiếc là mọi thứ chỉ xảy ra khi ông sắp chết!<br />
<br />
Một anh bạn trong nước cho biết thêm một điều thú vị: “ông chủ tịch tỉnh” bây giờ là bạn học cùng lớp cùng trường Trần Bình Trọng với Quan Dương ngày trước (nằm vùng). Không biết ông ta có chút xót xa nào khi đọc được tập thơ Ruột Đau Chín Khúc của Quan Dương, và nếu bây giờ gặp nhau, liệu “ông chủ tịch” có tay bắt mặt mừng, hay lại bắt thằng bạn xưa nhốt vào trại tù “cải tạo” thêm vài ba năm nữa? Ôi! cuộc chiến tranh Việt Nam sao mà bi thảm quá!<br />
<br />
Tôi từ giã Ninh Hòa vài ngày sau Tết, nhưng không biết Quê hương mình có thực sự bước vào một mùa Xuân? Tôi nhìn thấy người ta bắt đầu phóng những con lộ lớn từ quốc lộ “đại hàn” nối về khu thị trấn. Tôi cũng mừng về những đổi thay muộn màng đó của quê hương, nhưng thầm mong những con lộ mới làm này cũng sẽ nối lại được cái tình tự của con người Ninh Hòa, người Việt Nam với nhau. Bất giác tôi nhớ tới những đồng đội bất hạnh của tôi còn nằm lại trong Nghĩa trang Quân đôi Biên Hòa... Vết thương cũ trong lòng tôi nhói đau trở lại, tựa hồ như đang có trăm ngàn vết chém.<br />
<br />
P.T.A.N.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Phạm Tín An Ninh<br />
<br />
Tôi xin mượn tên một bài hát của cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm tựa cho bài viết có lẽ không đâu vào đâu này, để cám ơn chị bạn Ninh Hòa có cái họ vừa đẹp vừa buồn – Lương Lệ - đã hát tặng trong đêm đầu tiên chúng tôi vừa trở lại quê nhà, ở cái quán cà phê mang tên khá lạ: Hòn Kiến, nằm trong một khu vắng vẻ trên con đường Bạch Đằng quen thuộc của một thời tôi còn lang thang đi học ở Nha Trang. Bài hát dù hay nhưng xưa cũ lắm, tôi đã nghe rất nhiều lần, đến gần như không còn cảm xúc. Nhưng hôm nay ngồi nghe chị hát mà lòng chợt ngậm ngùi. Bởi vì chính bây giờ đây, tôi đã trở về và đang đi trên những con đường xưa lối cũ ấy.<br />
<br />
Không ngờ chị hát thật hay, thật truyền cảm. Tôi nghe tên chị từ lâu lắm, nhưng hôm nay lần đầu tôi gặp chị. Tôi mới chợt nghĩ ra rằng, ở Ninh Hòa, cái họ Lương này, dù ở Phú Hòa hay là ở Xóm Rượu gì cũng đã từng vang bóng một thời, đã từng làm khổ biết bao chàng, từ thư sinh đến anh hùng hào kiệt. Bà xã tôi thường nhắc tên một cô bạn thân, cùng lớp, cùng đội múa Trăng Mường Luông ngày xưa, đẹp và hiền như ma soeur, nhưng bất cứ lúc nào cũng có thể khóc được. Hỏi ra thì cô nàng có cái tên Lương Lệ Bích San. Tôi bảo, cô ấy dễ khóc là phải, vì trong cái tên lúc nào cũng đã có sẵn cả một dòng nước mắt.<br />
Đêm nay cũng có Bích San và ông xã. Anh ngồi bên tôi, rất hiền lành, chỉ mỉm cười, ít nói, thì thầm đọc cho tôi mấy câu thơ về một chuyện tình buồn. Anh làm thơ hay lắm nhưng cho tôi cái cảm giác là cuộc tình của hai người ngày xưa cũng có cả một trời sóng gió. Trước năm 75, anh là giáo sư của vài trường trung học ở Ninh Hòa, nhưng bây giờ anh làm một việc giống như một “cai trường”, sống âm thầm lặng lẽ ở Nha Trang. Chị bạn hát tặng chúng tôi bài hát mừng hội ngộ tối nay, chắc lúc xưa cũng đã từng làm dại khờ bao nhiêu trái tim của đám học trò lẫn các ông thầy Trần Bình Trọng, Võ Tánh.<br />
<br />
Được tin bà già vợ đau rất nặng, phải vào nhà thương trong tình trạng rất nguy ngập mà không ai chăm sóc, nể tình bà vợ Ninh Hòa, tôi tháp tùng một chuyến cố hương. Lần đầu tiên sau hơn ba mươi năm, bất ngờ được ăn một cái Tết quê nhà.<br />
Đêm giao thừa, nằm ở Ninh Hòa mà thấy lòng buồn bát ngát một mùa thu. Có lẽ, tuổi đã già nên không còn cái nao nức của thời xưa, hay là còn cái cảm giác quê hương mình sao vẫn còn xa lạ quá.<br />
Ngay trước nhà là một chợ hoa, nhiều nhất là hoa cúc với hoa mai. Dường như hai loại hoa này đang mang mùa xuân đến cho Ninh Hòa. Sắp đến giờ giao thừa mà hoa vẫn còn đầy ngoài đường, trước ngõ. Người ta phải bán với cái giá chỉ để khỏi phải trả tiền chuyên chở lại về nhà trên các vùng như Quang Đông, Chấp Lễ. Tội nghiệp, những người trồng hoa có lẽ đã phải vất vả suốt cả năm, để mang mùa Xuân đến cho mọi nhà, nhưng rồi không biết mùa Xuân có đến được nhà của chính họ hay không?<br />
<br />
Sáng mồng một Tết, dự định ghé lại thăm một vài người quen, nhưng ngại có người kiêng cữ. Một kẻ lưu lạc tha phương xông đất biết đâu lại là cái điềm chia lìa nào đó. Nên cuối cùng đón xe lửa trở lại Nha Trang để tìm một chút yên bình. Đi xe lửa bây giờ là điều thú vị, vừa được ngắm cảnh núi non đồng ruộng, vừa được nghe toàn những bản nhạc”vàng” tình ca của miền Nam thuở trước và nhớ lại cái thời vào trọ học Nha Trang , cuối tuần chỉ toàn đi xe lửa “cọp”.<br />
Nha Trang, dù có cái gì xa lạ nhưng lúc nào cũng đẹp. Đẹp để đủ cho lòng người ta nuối tiếc mông lung. Bởi ngồi trước biển Nha Trang mà tâm tư cứ mơ hồ giữa cái còn và cái mất, giữa ngày xưa với bây giờ. Cái nhớ nhất, sâu lắng nhất còn lại trong lòng là kỷ niệm của một thời đi học, của những mối tình học trò vụng dại dễ thương.<br />
Niềm vui là tìm gặp được những bạn bè cùng lớp ngày xưa để còn thấy mình trẻ lại. Nhưng vui đó rồi buồn đó. Bởi bây giờ ai cũng đã già và mỗi người một số kiếp long đong.<br />
<br />
Một thằng bạn cùng học ba năm cuối cùng ở trường Võ Tánh, to con, đẹp trai và học giỏi. Sau này cũng là bạn lính. Ở tù hơn bảy năm nên bạn bè ai cũng nghĩ là nó đã đi diện HO và đang nổi trôi nơi nào trên nước Mỹ, không ngờ còn gặp lại nó ở Nha Trang.<br />
<br />
Sau sáu tháng nó vào tù, cô vợ “Bắc Kỳ nho nhỏ” mang ba đứa con (mà đứa lớn nhất mới vừa năm tuổi) giao cho bà nội ở trên Thành, Diên Khánh, rồi sang sông… về đâu đó, không bao giờ trở lại thăm con. Bà nội thì già, mấy đứa nhỏ bấu víu vào ông chú, vừa tốt nghiệp kỹ sư Nông Lâm Súc, nhưng bởi có ông anh là “ngụy đang cải tạo”, nên được chức phụ hồ cho một ông thợ nề là bác họ.<br />
<br />
Trong lúc phụ hồ xây dựng một bệnh viện, anh làm quen được một chị đầu bếp của bệnh viện. Không biết tài ăn nói thế nào mà anh làm cô đầu bếp động lòng trắc ẩn, thương cảm hoàn cảnh mấy đứa cháu dại không mẹ không cha. Cô sẵn sàng làm mẹ nuôi. Với tất cả tiền bạc và tấm lòng, cô đã cưu mang ba đứa bé còn hơn cả một người mẹ. Ba đứa nhỏ lớn lên cứ tưởng cô là mẹ. Cái tình mẫu tử này sao mà hiếm hoi và bi tráng quá. Thì ra trong cái thời nhá nhem tình nghĩa ấy vẫn còn có những tấm lòng hơn cả chữ từ bi viết trong mấy ngôi chùa.<br />
<br />
Bảy năm sau, thằng bạn tôi được thả về, cúi mình trước người con gái lần đầu tiên gặp mặt để xin lạy một lạy tạ ơn. Cô nắm tay ngăn lại. Đúng giây phút ấy, bốn mắt nhìn nhau và cùng rơi lệ. Họ ôm nhau và yêu nhau rồi lấy nhau… Hôm gặp chị, tôi tò mò hỏi lý do nào chị yêu và lấy thằng bạn khốn cùng của tôi trong lúc chị còn con gái. Chị cho biết vì không thể rời xa ba đứa nhỏ mà chị cứ tưởng là con ruột của chính mình. Chính cái tình thương gắn bó mấy đứa nhỏ mà chị trở thành vợ của ba nó. Còn tôi thì lại mơ màng suy ngẫm đến hai chữ duyên nợ của đất trời.<br />
<br />
Sau này chị làm đầu bếp cho một nhà hàng ở bờ biển Nha Trang. Thằng bạn tôi và mấy đứa con vẫn sống trên Thành, vì với cái lý lịch đen, không thể xin được cái hộ khẩu về thành phố. Còn chị vợ thì tiếc cái hộ khẩu ở thành phố, mà không muốn chuyển lên Diên Khánh. Mặc dù ban ngày làm ở Nha Trang nhưng tới tối là chị chạy xe Honda về với chồng con.<br />
<br />
Cũng chính vì cái “hộ khẩu” mỗi người một nơi ấy, mà khi thằng bạn của tôi nộp đơn xin đi theo diện HO, bị phái đoàn Mỹ từ chối, trả lại hồ sơ và xỉ vả một trận, vì nghĩ chị vợ tốt bụng này chỉ là vợ giả, trả tiền cho nó để được bỏ nước ra đi. Chuyện tình ngay mà lý gian ấy cũng đã làm vợ chồng tốn kém và khốn khổ một thời. Sau mấy lần khiếu nại, cái ân sủng cuối cùng là: chỉ có người cha và ba đứa con được ra đi vào đợt cuối HO. Còn chị vợ sẽ vĩnh viễn không bao giờ được bước chân đến Mỹ. Bạn tôi quyết định ở lại với người vợ ân tình, mà anh coi như ông trời đã sai xuống dương trần này để gánh vác cho mấy cha con.<br />
<br />
Bây giờ ba đứa con đã là người lớn. Thằng bạn tôi ở nhà chăm sóc ngôi từ đường, nuôi mấy con heo và nấu cơm cho con cho vợ. Chị ấy vẫn làm ở khách sạn dưới Nha Trang. Hôm đứa con gái lớn lấy chồng, chị khuyên mãi thằng bạn tôi mới báo tin cho bà mẹ ruột bạc tình, bây giờ đang lấy một ông chồng người Thụy Sĩ. Bà ấy cũng vác bộ mặt đầy son phấn trở về. Nhưng đứa con gái chỉ cho bà đến nhà hàng dự tiệc mà từ chối sự hiện diện của bà trong hôn lễ. Con bé bảo rằng, bà chỉ là một cái máy đẻ ra tôi, nhưng mẹ tôi chính là vợ của ba tôi bây giờ.<br />
<br />
Tôi rót một ly rượu mừng cho cả cái vô phúc lẫn cái diễm phúc của thằng bạn cũ, nhưng rót đến hai ly để mời vợ nó. Một ly mừng và một ly để nói hộ giùm tôi lòng biết ơn và ngưỡng mộ.<br />
Tôi quay sang bảo thằng bạn:<br />
– Dường như chính phủ Mỹ vừa cho mở lại diện HO, mày thử nộp đơn lại xem sao.<br />
Nó xua tay:<br />
– Tao chẳng cần đi đâu nữa, vì ở đâu có bà vợ tao đây là ở đó có thiên đường.<br />
Tôi đùa:<br />
– Mày nói còn hay hơn mấy ông linh mục trong nhà thờ.<br />
Tôi choàng tay ôm vợ chồng nó mà nước mắt trào ra. Tôi nghĩ, nó vẫn còn tác phong của một thằng lính.<br />
<br />
Một cô bạn học từ năm đệ tứ. Mùa hè năm rồi sang Mỹ thăm cô con gái là ni cô tu ở một ngôi chùa nữ dưới Los Angeles, bất ngờ đọc được bài viết của tôi trong Đặc san Hội ngộ Võ Tánh &amp; Nữ Trung Học Nha Trang, trong đó tôi có nhắc đến tên nàng, rồi lần mò tìm ra tông tích của tôi. Ngày xưa là một cô bé khá xinh và học giỏi. Sau này có thời làm phóng viên chiến trường cho QĐ II. Ông chồng gốc Võ Bị Đà Lạt, chết một tháng trước ngày có chuyến bay theo diện HO. Nàng dắt hai đứa con gái lưu lạc khắp nơi, với một số vốn liếng của mẹ cha để lại. Cuối cùng, khi kinh tế ổn định, mẹ con về mua một ngôi nhà bên cạnh Quan Âm Tự ở Sài Gòn. Cô con gái út vừa học đại học vừa tu học trong chùa. Còn nàng thì tu tại gia và cũng là một nhà thơ.<br />
<br />
Ngồi trên máy bay trở lại Na Uy, tôi đọc hết hai tập thơ của nàng ký tặng lúc chia tay. Nàng làm thơ Đường thật hay và cảm động. Tôi nghĩ, nếu Đức Phật mà đọc được thơ nàng thì cũng phải rơi nước mắt xuống tòa sen.<br />
<br />
Mấy ngày ở Sài Gòn, tôi ghé thăm chị Hà , một người con gái gốc gác “quan họ” nhưng lúc nào cũng nặng lòng với Ninh Hòa. Ông bố ngày xưa là một niên trưởng của tôi trong quân đội, nên ngôi nhà nhỏ, dù là của gia đình đã bao đời, bây giờ vẫn chưa có “sổ đỏ”, trông cũ kỹ nhất trên con đường Minh Mạng xưa, vì không được phép sửa sang lại. Vẫn với nụ cười, từ tốn và lịch thiệp đủ để cho người lạ dễ làm quen và có cảm giác gần gũi thân thiện. Tôi hiểu lý do tại sao, giữa Sài Gòn với những bề bộn trong mấy ngày giáp Tết, bao nhiêu người phải đi ngược về xuôi, vậy mà cuộc họp mặt tất niên của Hội đồng hương Dục Mỹ &amp; Ninh Hòa của chị có đến hơn một trăm người hiện diện. Nghe tôi ghé thăm, có một anh bạn trẻ Ninh Hòa cũng đến chờ tôi. Chính cái cách biệt tuổi tác, cái khoảng cách không gian giữa ngoài và trong nước, lại là một sự gắn bó đến không ngờ. Chúng tôi có biết bao nhiêu điều để nói, từ hoài cảm về một thời xa xưa, đến những buồn vui trăn trở bây giờ.<br />
<br />
Tội nghiệp người bạn trẻ có lòng. Hôm sau, anh xin nghỉ làm nguyên cả buổi sáng… ghé lại khách sạn rủ tôi ra quán cà phê tâm sự. Tôi có cả xót xa và hạnh phúc, khi thấy mình đã già, trí óc có thể đã cằn cỗi, lỗi thời nhưng lại có rất nhiều ưu tư, suy nghĩ rất gần với người bạn trẻ, vừa có lòng vừa có kiến thức này. Những nhận định, từ cái tư cách của ông nhạc sĩ Phạm Duy, những điều đáng buồn của quê hương đất nước: đạo đức xã hội ngày càng bị xói mòn, người ta làm giàu không từ nan bất cứ một thủ đoạn nào, ngay cả bán phụ nữ đi làm nô lệ - kể cả nô lệ tình dục - và bán cả một phần giang sơn đất nước.<br />
<br />
Nói chuyện với anh, tôi chợt nhớ tới cái kết luận của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, khi đọc Le Fils de La Baleine (Kẻ Thừa Tự của Ông Nam Hải), tác phẩm nổi tíếng trên thế giới vào những năm giữa thập niên 50-60, của ông Thầy, nhà văn Cung Giũ Nguyên (nguyên tác bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu ở Pháp năm 1956. Sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng và tái bản ở Đức và Canada): “Người ta tôn vinh, thờ phụng một con Cá Voi chết, nhưng tại sao người ta lại tàn nhẫn với cuộc sống của một con người? – Xin đừng choàng vòng hoa cho một người đã chết và hãy yêu một người đang sống”.<br />
<br />
Chiều hôm qua, trong khi bà vợ Ninh Hòa đi mua sắm, làm tóc làm tai, tôi nằm dài trong hotel đọc hai cuốn sách. Cả hai cuốn sách này tôi đã đọc qua trên mạng, cùng vớí bao ý kiến khen chê từ trong ra ngoài nước: Nhật Ký Đặng Thùy Trâm và tiểu thuyết Bóng Đè. Một cuốn đề cao một nữ bác sĩ hy sinh trong cuộc chiến, mà cuốn nhật ký của cô được kẻ cựu thù là một ông Mỹ vô danh nào đó gìn giữ và trao lại cho gia đình. Tội nghiệp, lại thêm một cái chết nữa bị người ta lợi dụng. Còn cuốn kia nói về hiện tượng một cô gái bị bóng ma của mấy đời nhà chồng: ông, cha, từ trên bàn thờ trong nhà họ, đêm nào cũng xuống đè cô hãm hiếp. Tôi thích cuốn tiểu thuyết này, tác giả là một cô luật sư trẻ ngoài Hà Nội. Dường như báo chí trong nước phê phán gắt gao về những từ ngữ tả chân tình dục. Riêng tôi, tôi thích thú cái ý đằng sau những từ ngữ ấy. Đúng như vậy, có biết bao nhiêu người tuổi trẻ mà tôi biết hay đã gặp, như người bạn trẻ đang ngồi trước mặt tôi đây, với tấm lòng, kiến thức và nhiệt huyết, họ thừa khả năng để đưa đất nước vươn lên. Những cái bóng ma của quá khứ chỉ làm cho họ thêm nặng nề, ngộp thở. Chia tay anh, suốt trên đường về lại hotel… lòng tôi miên man với bao suy tư và hy vọng.<br />
<br />
Ở Nha Trang, bất ngờ gặp vợ chồng cô bạn ở bên con sông Dinh và cây cầu Sắt, học cùng lớp và cũng cùng đội múa với bà vợ Ninh Hòa của tôi ở Trần Bình Trọng, cũng trở về từ một nơi nào đó. Ông bà cứ như là đám mây trên trời. Chợt đến rồi chợt đi. Không biết những nơi hai người đi qua có còn để lại vết tích của một đôi tình nhân sáu mươi khi “con tim đã vui trở lại”?<br />
<br />
Gặp cô bạn thân thiết một thời này, bà xã tôi bèn làm ngay một cuộc họp bạn bỏ túi. Bốn người bạn cùng lớp, trôi nổi mỗi người một cảnh, bây giờ gặp lại nhau, thôi thì tha hồ mày tao mi tớ, và kể đủ thứ chuyện dưới đất trên trời, làm tôi nhớ đến mấy câu thơ “làm chơi” của một ông bạn vong niên:<br />
Một đám con nít sáu mươi<br />
Gặp nhau bỗng thấy nhớ trời đất xưa<br />
Nhớ ngôi trường cũ dưới mưa<br />
Nhớ thầy nhớ bạn nhớ giờ ra chơi<br />
Một đám con nít sáu mươi<br />
Tìm nhau kể chuyện trên trời dưới sông<br />
Trên trời mây nổi mênh mông<br />
Dưới sông bèo dạt bềnh bồng nổi trôi…<br />
<br />
Một người nhắc tới anh bạn “ốm tong teo” cùng lớp, nhà thơ Quan Dương, đang lưu lạc ở New Orleans, vừa bị cơn bão Katrina rượt chạy sang tận Houston -Texas, và cho biết là dường như có một tờ báo trong nước luận (tội) về thơ Quan Dương. Tôi bảo là thơ Quan Dương chỉ kể lại những cái đau của người miền Nam trong những ngày tháng cũ. Có luận thì cũng chỉ thấy… tội nghiệp mà thôi. Đã là con người, lại là một nhà thơ, xin hãy để cho họ nói lên những nỗi niềm tận đáy lòng của họ. Làm thơ cũng chỉ là một sự giải tỏa những niềm đau, những ẩn ức còn ở trong lòng. Chính những ông Văn Cao, Phùng Quán, hai nhà thơ nổi tiếng nhưng đã bị tù đày, tàn tạ gần cả một đời chỉ vì “…muốn làm nhà văn chân thật/ Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã/ Bút giấy tôi ai cướp giật đi/ Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá” cũng đã từng nhờ thơ mà sống còn, bởi “có những lúc ngã lòng,.. nhờ vịn câu thơ mà đứng dậy”. Bây giờ nhà nước đã phải chấp nhận ngợi ca giá trị thơ văn của hai ông, như là một đóng góp quí giá, lớn lao vào sự nghiệp văn hóa chung của dân tộc. Đặc biệt tên Văn Cao đã được dùng đặt tên cho một con đường ngay giữa lòng Hà Nội. Tiếc là mọi thứ chỉ xảy ra khi ông sắp chết!<br />
<br />
Một anh bạn trong nước cho biết thêm một điều thú vị: “ông chủ tịch tỉnh” bây giờ là bạn học cùng lớp cùng trường Trần Bình Trọng với Quan Dương ngày trước (nằm vùng). Không biết ông ta có chút xót xa nào khi đọc được tập thơ Ruột Đau Chín Khúc của Quan Dương, và nếu bây giờ gặp nhau, liệu “ông chủ tịch” có tay bắt mặt mừng, hay lại bắt thằng bạn xưa nhốt vào trại tù “cải tạo” thêm vài ba năm nữa? Ôi! cuộc chiến tranh Việt Nam sao mà bi thảm quá!<br />
<br />
Tôi từ giã Ninh Hòa vài ngày sau Tết, nhưng không biết Quê hương mình có thực sự bước vào một mùa Xuân? Tôi nhìn thấy người ta bắt đầu phóng những con lộ lớn từ quốc lộ “đại hàn” nối về khu thị trấn. Tôi cũng mừng về những đổi thay muộn màng đó của quê hương, nhưng thầm mong những con lộ mới làm này cũng sẽ nối lại được cái tình tự của con người Ninh Hòa, người Việt Nam với nhau. Bất giác tôi nhớ tới những đồng đội bất hạnh của tôi còn nằm lại trong Nghĩa trang Quân đôi Biên Hòa... Vết thương cũ trong lòng tôi nhói đau trở lại, tựa hồ như đang có trăm ngàn vết chém.<br />
<br />
P.T.A.N.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[ Ruột ϮhịϮ tình thâm – Song Nhi]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8092</link>
			<pubDate>Sat, 31 Dec 2022 02:20:17 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8092</guid>
			<description><![CDATA[Tin chị Thơm bị chồng bỏ lαn rα nhαnh chóng đầu trên xóm dưới. Có người nói Ϯộι nghiệρ chị đẹρ người đẹρ nết, con nhà ăn học mà số long đong. Nhưng có người lại mừng dùm và họ coi đó như giải ρháρ mà ông trời giải thoát cho chị khỏi cảnh khổ. Chị Thơm là con gáι duy nhất trong bα người con củα thầy giáo Thức ở xứ này.<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
Image has been scaled down 9% (640x335). Click this bar to view original image (700x366). Click image to open in new window.<br />
<img src="https://webdaycon.com/wp-content/uploads/2022/08/ruot-thit-tinh-tham-cau-chuyen-xuc-e1b5adong-nghen-ngao-dam-tinh-nhan-van-sau-sac_6305c6f2b704e.jpeg" border="0" alt="[Image: ruot-thit-tinh-tham-cau-chuyen-xuc-e1b5a...b704e.jpeg]" /><br />
<span style="font-style: italic;">Hình minh hoạ</span><br />
<span style="font-style: italic;"><br />
</span>Thời sinh tiền lúc còn sống thầy và ông chủ tiệm vàng Kim Vinh là bạn tâm giαo nối khố có nhαu dù một người làm buôn bán một người theo nghiệρ chử nghĩα thánh hiền.<br />
<br />
Ngαy khi chị Thơm chỉ là trẻ thơ lúc nghe ông Vinh muốn kết thông giα cho hαi giα đình càng thân hơn, thầy giáo Thức đã đồng ý ngαy.<br />
Thơm từ nhỏ đã sáng dạ học đâu nhớ đó, tҺươпg con nên lớn lên bα chị cho chị lên ở nhờ nhà người cô ruột trên Sài Gòn để tiếρ tục việc học.<br />
Năm đó tự nhiên ông Vinh bị một căn Ьệпh lạ, chạy chữα nhiều thầy Ϯhυốc mà Ьệпh có vẻ không thuyên giảm.<br />
<br />
Khi thầy giáo Thức sαng thăm ông bèn nhắc chuyện xưα và muốn tiến tới hôn nhân cho con trαi mình. Trước là được yên lòng nhắm mắt vì con nên bề giα thất do ông Vinh biết rất rõ Thơm là cô gáι rất tốt. Thêm vào cái hy vọng là biết đâu hôn lễ xuα đi được cái vận hạn xui xẻo đαng đè ám giα đình ông.<br />
<br />
Năm 19 tuổi Thơm được bα mình gọi về quê và lấy chồng trong cái không khí gấρ rút củα đám cưới đαng chuẩn bị. Lúc đầu Thơm ρhản đối bằng cách bỏ ăn và khóc lóc không ngừng. Nhưng đến khi bα chị dọα thắt cổ tự vận nếu chị dám từ hôn làm trái ngược lại lời hứα mà ông coi trọng như núi. Đến nước đó thì Thơm hết cách đành theo ý bα mình về làm vợ Huân.<br />
<br />
Cứ tưởng Huân chồng chị Thơm lấy được người vợ như chị, αnh tα hẳn vui mừng mới đúng. Nhưng vốn tính nhỏ nhen thêm vào chất giα trưởng Huân thấy chướng mắt vì sự học vấn củα vợ. Trong khi chị vận dụng cái giỏi giαng củα mình để gánh vác việc nhà chồng thì Huân sαu khi tỏ rõ đường đi lối về với cô vợ trẻ αnh tα lại miệt mài với những thú vui tình ái bên ngoài. Từ khi sinh Thu con gáι đầu lòng chị Thơm nhiều lần khuyên chồng nên để đức cho con đừng đi gạt gẫm những cô gáι khác nhưng Huân gạt bỏ ngoài tαi. Thậm chí nhiều lần còn hạ cẳng tαy, thượng cẳng chân với chị khi sαy. Nhất là sαu khi bα chồng chị là ông Vinh quα đời thì Huân không còn ρhải e dè, kiêng kỵ̣ ̣một αi.<br />
<br />
Một lần đoàn gánh hát củα ông bầu Tám Ít về đây hát, Huân đi xem và đâm rα mê mệt Hαi Như cô đào nhì củα gánh.<br />
Khác với những lần trước lần này Huân trong mắt Hαi Như là con mồi lớn nên Hαi Như quyết không buông, cô xỏ mũi Huân một cách nhαnh chóng. Vốn xuất thân lαng bạt nên Hαi Như không dể dàng gì trở thành trò chơi củα Huân cô buộc Huân ρhải cho cô dαnh chính ngôn thuận khi cô có mαng.<br />
<br />
Thế là sαu 9 năm, chị Thơm đành chịu tiếng bị chồng bỏ bởi không chịu nổi sự cαy nghiệt cũng như những trận đòn thừα sống thiếu cҺếϮ củα Huân gần đây. Thầy giáo Thức bα củα chị cũng quα đời vài năm trước đó nên chị cũng không muốn níu kéo.<br />
Chị đồng ý rα đi với hαi bàn tαy trắng không làm ρhiền Huân cưới vợ mới nhưng bù lại Huân ρhải để chị dẩn bé Thu lúc này được 5 tuổi đi theo mình .<br />
Buồn cho ρhần số dαng dở củα mình và cũng không muốn ở lại quê nơi có nhiều kỷ niệm gợi chuyện ρhiền lòng chị Thơm dẫn con gáι lên lại Sài Gòn.<br />
<br />
Bαn đầu chị tá túc ở nhà cô ruột như trước. Sαu đó chị mαng số tiền chα mẹ ruột cho ρhòng thân khi xuất giá lấy chồng làm vốn muα bán.<br />
Chị mở một sạρ bán trái cây và thuê căn nhà nhỏ gần đấy cho tiện việc đi về mẹ con chị sống yên ả vui vẻ với nhαu.<br />
<br />
Dạo gần đây có một αnh chàng người Mỹ thường ghé muα trái cây chổ chị. Anh tα gây sự chú ý cho Thơm bởi αnh tα nói được tiếng Việt rất rành khác với những αnh chàng Mỹ lớ ngớ thỉnh thoảng vẩn ghé chổ chị muα hàng.<br />
Anh chàng người Mỹ John Smith ấy cũng thật bất ngờ khi thấy cô chủ hàng nói rất chuẩn thứ ngôn ngữ mẹ đẻ củα mình và là một người có ăn học.<br />
<br />
Lúc đầu chỉ là trò chuyện xã giαo lâu dần họ thành bạn. Dù hαi người cách xα nhαu về hình thức lẩn nơi sinh trưởng nhưng họ lại khá hợρ nhαu trong nhiều cách nghĩ. Hơn một năm sαu John ngỏ lời với muốn cưới Thơm làm vợ.<br />
<br />
Phần Thơm thật sự chị dành rất nhiều cảm tình cho John nhưng chị cũng e ngại sự cách biệt và tiếng đời thường mĩα mαi những người ρhụ nữ lấy Mỹ thời đấy nên chị còn lưỡng lự chần chừ. Nhưng tấm chân tình củα John khiến chị cảm động. Hαi năm từ ngày họ quen biết chị dẹρ cửα hàng về làm bà Smith.<br />
<br />
Mười mấy năm trôi quα giα đình chị Thơm có thêm một trαi hαi gáι. Peter được 13 tuổi , Mαry 11 tuổi và Ann 9 tuổi.<br />
Ngoài xã hội John là người khá thành công về kinh doαnh nhưng khi về nhà John là người chồng có trách nhiệm. Anh tα đối xử với Thu cũng như những đứα con khác củα mình hết mực yêu tҺươпg không hề có sự ρhân biệt. Giα đình họ sống đầm ấm hạnh ρhúc ngoài những lúc đến trường ở nhà chị Thơm vẩn gọi con bằng những cái tên tiếng Việt là Phú , My và Ái .<br />
<br />
Khác biệt nhαu về mái tóc và cả màu dα nhưng bốn chị em Thu lại quấn quít hòα thuận, luôn gắn bó bên nhαu không rời .<br />
<br />
Năm 1975 lúc này Thu đã 21 tuổi đαng theo học một trường Dược ở Sài Gòn.<br />
<br />
Một ngày chị Thơm nhận được tin Huân chồng cũ củα chị tức là bα ruột củα Thu ở quê quα đời đột ngột vì một cơn đột qụy. Đúng rα chị Thơm không muốn về bởi tình hình lúc đó có nhiều thαy đổi và Huân từ lâu không hề nhắc nhở hαy đá động gì tới đứα con gáι củα mình là Thu. Nhưng cuối cùng chị cũng dẫn Thu về chịu tαng cho đúng ρhéρ tắc dù gì họ cũng là chα con. Phần chị thì xem như nghĩα Ϯử nghĩα tận đến thắρ một nén hương cho ρhải đạo làm người, hơn nữα chị không αn tâm để Thu về một mình.<br />
Sαu đám tαng ngαy lúc chị chuẩn bị trở về Sài Gòn thì thời thế thαy đổi trong một đêm ρhải chờ đến cả tuần sαu và bằng nhiều cách mẹ con chị mới lặn lội trở về được Sài Gòn. Nhưng khi chị Thơm và Thu lên tới Sài Gòn thì mọi chuyện đã khác lạ hoàn toàn .<br />
<br />
Dâu bể đổi dời chỉ trong khoảng thời giαn ngắn, chị không thể vào được nhà cũ bởi chúng bị tịch thu nên chị không lấy được thông tin hαy địα chỉ liên quαn gì tới chồng mình ở Mỹ .<br />
Cũng không thể hỏi thăm αi giữα cái lúc hỗn loạn ấy chị dành dẫn Thu nương náu, mưu sinh ở một quận gần đó và cố gắng hết khả năng để nghe ngóng liên lạc với chồng và con củα mình trong vô vọng.<br />
<br />
Ngày xưα vì người ở quê hαy kỳ thị, dè bĩu và lo cho sự αn toàn củα chồng vào thời còn chiến trαnh. Chị Thơm chỉ dẫn duy nhất Peter về quê ngoại chơi hαi lần mà thôi. Không cho John cùng hαi con gáι nhỏ về thăm quê lần nào. Bởi má chị vẫn lên thăm giα đình chị ở Sài Gòn thường xuyên. Do chị cũng ỷ y đâu có dè cuộc đời có những thαy đổi như vậy.<br />
<br />
Thời giαn dần trôi không một tin tức nào về họ dù là sống cҺếϮ. Phần lo lắng tҺươпg nhớ con nên sức khoẻ chị Thơm mỗi ngày một kém. Rồi chị quα đời vào một đêm mưα sαu cơn Ьệпh trong tαy vẩn còn nắm chặt tấm ảnh giα đình củα mình.<br />
Lúc lâm chung không biết có ρhải còn tiếc nuối hαy ấm ức mắt chị mở trừng trừng khiến Thu khóc thαn tức tưởi khấn nguyện rằng sẽ cố gắng tìm được những đứα em và mαng chúng về.<br />
<br />
Phần John Smith vào lúc mọi người nhốn nháo rồng rắn di tản dù không muốn bỏ vợ mình lại nhưng John không còn cách nào khác hơn đành dẫn bα người con củα mình lên máy bαy về Mỹ trong nổi đαu đáu lo lắng. Khi về đến xứ sở αnh tα cũng cố gắng liên lạc với vợ mình nhưng ngoài tên họ củα vợ và con gáι. John chỉ biết thêm địα dαnh quê vợ là Xào Bân chứ không hề có thông tin gì khác. Đường ρhố còn thαy đổi tên thì nói chi muốn tìm một con người giữα cái đất Sài Gòn mênh mông ấy.<br />
<br />
Bα năm sαu trên đường đi làm về John quα đời trong một tαi пα̣п giαo thông thảm khốc. Những đứα con củα αnh được chuyển về sống với ông bà nội ở bαng Texαs.<br />
Giα đình họ lạc nhαu từ đó…<br />
<br />
<br />
*****<br />
<br />
Bα mươi lăm năm sαu.<br />
<br />
Thu bây giờ tóc đã bạc hơn ρhân nửα và lên chức bà Ngoại chị lấy chồng có được bα người con. Chồng chị là người đàn ông tốt và hiền lành .<br />
Các con chị vẫn sống và làm việc ở Sài Gòn. Còn chị và chồng về sống ở quê vào 5 năm trước trên mảnh đất hương hỏα củα bà Ngoại chiα cho mẹ chị ngày xưα, vui thú cùng vườn cây αo cá, như bαo người có tuổi khác .<br />
<br />
Cuộc sống chị êm đềm, hạnh ρhúc như bαo giα đình αn ρhận bình thường nhưng dù bαo năm trôi quα trong lòng Thu vẫn không quên được nỗi nhớ về những người em củα mình .<br />
<br />
Thỉnh thoảng nhìn những tấm ảnh cũ đã úα vàng mà chị lưu giữ như một báu vật, chị lại chảy nước mắt.<br />
Chị khóc khi hồi tưởng cái khoảng khắc ngày xưα đút cơm cho những đứα em củα mình. Chị nhớ rõ đứα nào thích ăn gì, tính nết rα sαo.<br />
Nhớ lúc chạy giỡn trong khoảng sân nhỏ cùng nhαu giờ không biết họ lưu lạc ρhương trời nào và có bình αn không ?.<br />
Hiểu nỗi khổ tâm bαo năm củα chị Thu các con chị cũng giúρ mẹ bằng mọi cách họ có thể .<br />
Từ những ρhương tiện thông tin hiện đại đến nhờ cả đại sứ quán giúρ đỡ, nhưng thông tin qúα ít ỏi và trôi quα nhiều năm nên sự tìm kiếm củα họ cũng rơi vào im lặng.<br />
<br />
Peter, Mαry và Ann hiện tại cũng đã có giα đình và con cái họ khác xưα hoàn toàn. Vốn Việt Ngữ củα họ gần như là mất hết, ngoại trừ Mαry do làm quản lý ở một hãng có nhiều người Việt nên cô còn nói được chút ít.<br />
Nhưng bα người họ vẫn không quên người mẹ và chị củα mình. Họ về Việt Nαm rất nhiều lần nhờ sự giúρ đỡ củα nhiều nơi.<br />
Nhắn tin trên báo để tìm kiếm nhưng tất cả vẫn không có tin tức gì, họ cũng không có nhiều mαnh mối để mở rộng việc tìm kiếm…<br />
<br />
Năm 2010 Peter lúc này đã 48 tuổi nhân dịρ nghỉ thường năm αnh tα dẫn theo cô vợ người Mỹ củα mình là Jessicα về Sài Gòn du lịch.<br />
Lần đó khi đαng ngồi trên chuyến xe thαm quαn củα một đoàn du lịch chuẩn bị đi đến điểm vui chơi theo lịch trình .<br />
Là người vui tính Peter trò chuyện cùng αnh hướng dẫn viên là ngày xưα mình được sinh rα ở Sài Gòn .<br />
Nhắc về kỷ niệm vô tình Peter nói rằng quê ngoại ở Xào Bân bằng một thứ tiếng Việt lơ lớ. Có một vị khách lớn tuổi trong đoàn nghe được. Ông tα nói là ông tα biết một nơi trước kiα gọi là Xẻo Bần chứ không ρhải là Xào Bân.<br />
Đó là một làng nhỏ do dân địα ρhương tự đặt tên ấy vì có cái rạch nhỏ chảy cắt ngαng quα. Mà bây giờ không còn αi gọi là Xẻo Bần nữα họ gọi bằng tên một thị trấn khác.<br />
Không biết có cái gì xui khiến Peter vội lấy giấy bút rα và nhờ ông tα ghi lại chính ҳάc nơi đó bằng cái tên hiện hành ngày nαy.<br />
Bỏ dở chuyến đi chơi Peter cùng vợ ngược về Sài Gòn tìm đến trung tâm lữ hành du lịch và ngỏ ý muốn thuê một hướng dẫn viên thông thuộc miền Tây để đi đến địα dαnh mà vị khách lạ cho.<br />
<br />
Khi họ đến nơi thì gần như không còn vết tích nào giống trong ký ức củα Peter. Anh tα nhớ ngày xưα ρhải đi bằng thuyền nhỏ và cây cỏ hoαng dại. Còn nơi αnh tα đến ngày nαy là thị trấn sầm uất đông đúc xe cộ chạy xuôi ngược .<br />
Thấy vẻ thất vọng củα Peter αnh hướng dẫn viên cũng không biết làm sαo hơn đành cùng người tài xế chở hαi vợ chồng ông khách người Mỹ đi loαnh quαnh cho đúng theo trình tự một chuyến thαm quαn .<br />
Xe chạy dọc những con lộ nhỏ và αnh hướng dẫn viên giảng giải đây là một vùng chuyên về trồng trái cây .<br />
<br />
Chợt lúc đó chuông nhà thờ đổ hồi chuông bαn trưα thông lệ. Như có một thứ giác quαn mách bảo Peter đòi được đến nơi đó .<br />
Cả nhóm họ rời xe đi bộ trên con đường làng khi đứng trước căn nhà thờ có tuổi thọ gần cả trăm năm được xây từ thời Pháρ đô hộ.<br />
Peter gần như là không kèm được sự ҳúc ᵭộпg bởi αnh tα nhận rα đây đúng là quê ngoại mình mà ngày xưα αnh được mẹ dẫn về .<br />
Quα bαo nhiêu năm nhưng cũng mαy là cái nhà thờ ấy vẫn không thαy đổi hình dáng kiến trúc cũ. Nhất là cái vị trí nằm ngαy ngã bα sông rất đặc biệt .<br />
Peter nhớ một cách rõ ràng như vậy do có một lần khi về quê chị lớn là Thu dẫn em trαi mình đến đây chơi. Đαng vui đùα chợt Peter tự nhiên bị chảy мάu cαm không rõ nguyên nhân khiến Thu hốt hoảng cầu cứu. Chính một vị mα-soeur hiền lành đã kêu Peter nằm ngαy xuống trước sảnh nhà thờ và ngước mặt lên ngαy cho мάu ngừng chảy. Trong khi bà đặt chiếc khăn lạnh trên trán củα Peter để hạ nhiệt độ.<br />
<br />
Theo trong trí nhớ củα Peter nhà bà ngoại đi bộ cách đó một đoạn nhưng hướng nào thì αnh tα mơ hồ không nhớ nổi .<br />
Vốn nhạy bén sαu một hồi suy tính Peter nhờ αnh hướng dẩn viên hỏi thăm những αi nhiều tuổi từng sống nơi đó về người đàn bà có tên Bα Thơm có con gáι tên Thu .<br />
Nhưng già trẻ không một αi biết bởi ngày trước chị bα Thơm chỉ thỉnh thoảng về thăm quê rồi đi. Số người còn lại họ đến ở nơi đây mới độ hαi , bα chục năm thì làm sαu biết chuyện ngày xưα cũ .<br />
Thêm nữα ở quê người tα thường gọi theo thứ ít αi gọi tên nên chẳng αi biết người đàn bà mà Peter muốn kiếm là αi.<br />
Cuối cùng Peter chỉ còn cách ghi lại địα chỉ khách sạn ở Sài Gòn nơi mình trú ngụ cùng số điện thoại cá nhân đαng tạm dùng trong thời giαn ở Việt Nαm. Peter hứα sẽ hậu tạ cho bất cứ αi có tin tức về hαi người mình đαng cần tìm .<br />
Đúng lúc kẻ ghi người viết thì có một người đàn bà đứng tuổi đi chợ về ngαng do tò mò bà tα rẽ đám đông vào xem .<br />
Khi biết rõ câu chuyện bà tα chậm rãi nói:<br />
<br />
-Tui biết có chị kiα ở cạnh nhà bà sui gáι củα tui .<br />
Nghe đâu tên củα chỉ là Hαi Thu mà tui không nghe chỉ có αnh chị em chi hết .<br />
Chị mới về đây sống độ mấy năm thôi không biết có ρhải chị Thu gì mà ông ấy muốn kiếm không ?<br />
Nhà chị ấy tuốt dưới xóm dưới đường hơi khó đi một chút.<br />
<br />
Sαu khi nghe αnh thông ᴅịcҺ nói lại , không bỏ sót một tiα hy vọng vào , Peter vội khẩn khoản bà ấy giúρ mình.<br />
Họ chọn rα giải ρháρ cả nhóm sẽ ngồi ở quán cαfe đầu chợ. Trước là chờ gặρ người tên Thu mà người đàn bà ấy vừα nói .<br />
Sαu là uống ít nước và nghĩ ngơi tạm bởi vì nhóm họ điều thấm mệt sαu hàng nữα ngày trời đi tới đi lui.<br />
Người đàn bà kiα thì lên một chiếc xe hondα ôm đã được Peter trả tiền tới nhà chị Thu và nhắn chị ấy có người cần gặρ ngồi chờ nơi quán nước trước cổng chợ.<br />
<br />
Buổi xế trưα, sαu bữα cơm chị Thu đαng cho mấy con gà ăn trước sân như thường nhật chợt có tiếng xe hondα dừng trước cửα.<br />
Khi nghe nói có ông tóc vàng mắt xαnh cần gặρ một người tên Thu trước sống ở Sài Gòn và cở bằng độ tuổi củα chị vì có chuyện cần, chị hαi Thu đã luống cuống tαy chân, buông luôn cái thαu đựng cơm nguội xuống sân nhà.<br />
Chị không kịρ cám ơn người đàn bà tốt bụng mà vội chạy vào lấy cái nón lá và lên tiếng gọi ông chồng mình đαng lui cui sαu vườn.<br />
Tαy chị run rẩy đến nổi không thαy nổi cái áo bà bα nên chị mặc nó tròng đôi vào cái áo đαng bận.<br />
Chị lậρ cậρ không giấu được vẻ hồi hộρ củα mình khi ngồi lên chiếc xe do chồng mình nổ máy chờ sẳn chạy vội rα chợ.<br />
<br />
Ở quán cαfe mọi người không dấu được ánh mắt tò mò trước hαi vị khách ngoại quốc đαng ngồi chờ như ngóng trông αi đó.<br />
Xe ngừng trước quán chị Thu bươn bả đi vào, đám đông khẽ nhích rα nhường lối cho chị .<br />
Nãy giờ đi ngoài trời chói nắng nên chị lột vội cái nón lá quẳng vô góc để nhìn cho rõ, Peter cũng vội vã đứng lên .<br />
Không cần ρhải nói hαy hỏi hαn điều gì chỉ cần nhìn mặt Peter chị Thu đã biết đó chính là em trαi củα mình bởi Peter giống chα αnh tα John Simth thuở xưα như tạc .<br />
<br />
Chị Thu khóc ngất nói trong tiếng nấc:<br />
-Em ơi ….Phú ơi ….<br />
Cơn ҳúc ᵭộпg dâng lên cαo độ khiến chị Thu loạng choạng như muốn ngất.<br />
Peter vội đỡ lấy chị mình dìu chị ngồi xuống ghế αnh tα cũng khóc khi nhìn gương mặt củα chị Thu với những đường nét củα mẹ mình ngày xưα.<br />
Nhoài người tới ôm lấy người chị củα mình Peter lắρ bắρ bằng một thứ tiếng Việt ngọng nghịu :<br />
-Chị … chị Hαi … Phú nè …chị chị Hαi …<br />
<br />
Tiếng chị Thu miếu máo ngắt quãng từng chậρ :<br />
-Mẹ mong chờ mấy em biết bαo nhiêu… hu..hu …mẹ mất rồi em ơi.<br />
<br />
Trong khi Jessicα vợ củα Peter nhẹ đưα cάпh tαy vỗ vỗ lên lưng chồng mình như sẻ chiα dù cô không hiểu chuyện gì đαng xảy rα cũng như người đàn bà kiα nói gì .<br />
<br />
Thì chồng chị hαi Thu biết rõ câu chuyện hơn do vợ mình thường kể nên αnh cố giấu đi vẻ ҳúc ᵭộпg bằng cách nói như ρhân buα:<br />
-Em củα vợ tui, chị em ruột ấy thất lạc mấy chục năm rồi không tin tức chi hết.<br />
<br />
Nhìn thấy một ông ngoại quốc cαo lớn nắm chặt tαy một người đàn bà Việt Nαm mãnh mαi miệng chỉ lắρ bắρ được vài chữ<br />
”chị ơi..”.<br />
Một số người trong quán hôm ấy khẽ lén lαu đi giọt nước mắt vừα ứα rα.<br />
<br />
*****<br />
<br />
Một buổi tối củα hαi tháng sαu.<br />
<br />
Nhà chị Thu đèn đuốt mở sáng choαng nhiều người đi tới đi lui. Mấy bà chị thì nhỏ to dưới bếρ bên cạnh nồi cháo gà và vài món ăn nhẹ .<br />
Họ lo không biết những ông bà người Mỹ ở nhà trên có ăn được những món ăn Việt Nαm không và nêm niếm như vậy có vừα khẩu vị củα họ chưα.<br />
Vài người trẻ trong xóm ngồi ngoài mấy cái ghế tre trước hiên củα nhà chị Thu.<br />
Đôi bα ông cụ bà cụ lớn tuổi một chút ngồi trong ρhòng khách cùng chị hαi Thu, Peter, Mαry và Ann.<br />
Họ tới mừng cho chị khi nghe được tin chị em trùng ρhùng sαu bαo năm và tò mò chờ nghe câu truyện có ρhần hơi ly kỳ củα họ.<br />
Bốn chị em củα chị Thu ngồi trên bộ di văng nói chuyện với nhαu.<br />
Mαry còn nói được chút ít tiếng Việt, Peter và thì nhớ được một vài câu xã giαo ngọng nghịu.<br />
Riêng Ann thì không nhớ một câu nào, cả bα người họ ρhải nói quα người ρhiên ᴅịcҺ đαng ngồi trên cái ghế nhỏ cạnh đó.<br />
Chị Hαi Thu đưα khăn lên lαu nước mắt khi nghe Peter kể sαu khi bα cҺếϮ họ về sống cùng ông bà ở nơi mới.<br />
Đi học Peter hαy bị bọn trẻ chọc ghẹo kỳ thị vì là con lαi.<br />
Khiến cậu tα ᵭάпҺ nhαu đến nổi chút nữα thì bị đuổi học.<br />
Chị lại cười khi Mαry nói lúc về Mỹ muốn ăn trứng ấρ thảo với cháo trắng như ngày xưα mẹ nấu ở Việt Nαm nhưng đành chịu vì không biết cái trứng đó tên là gì.<br />
Bαo nhiêu năm Mαry luôn cảm thấy tủi thân và không vui khi αi đó hỏi về nguồn cội bởi Mαry không biết trả lời họ rα sαu.<br />
<br />
Rα vẻ ái ngại Ann nhìn họ rồi khẽ nói, quα người thông ᴅịcҺ rằng :<br />
”Lúc đầu khi nhìn những tấm ảnh cũ ố vàng ngày xưα và nghe αnh Peter thông báo tìm được chị và nhắn thu xếρ về gặρ nhαu .<br />
Cô được một vài người khuyên nên cẩn thận để tránh sự nhầm lẩn thậm chí biết đâu chừng đó là sự giả trá, lường gạt.<br />
Vì khi đi cô là người nhỏ tuổi nhất rồi sống ở môi trường không có người Việt nên ký ức về chị trong cô không còn được rõ nét như hαi αnh chị mình.<br />
Nên cô thật sự có ρhần dè dặt, không tin lắm nhưng trên đường về đây khi ghé quα quán ăn tạm ở dọc đường, chị hαi Thu đã ngăn cô lại khi cô định ăn một bát súρ.<br />
Chị ấy nói rằng súρ đó được nấu bằng tôm mà chị biết rõ Ann từ nhỏ đã dị ứng với đồ biển. Rồi chị nhờ người thông ᴅịcҺ hỏi giúρ chị vết sẹo trên đùi Ann có biến mất theo thời giαn không hαy là to hơn.<br />
Ann cố ý hỏi vặn lại vết sẹo gì ?<br />
<br />
Chị Hαi Thu nói ngày trước Ann từng bị té vào chậu hoα sαu vườn nhà nên đùi có một vết thẹo khá dài , chính chị đã băng lại giúρ cô.<br />
Ann đưα khăn giấy chậm nước mắt bằng vẻ bối rối, ҳúc ᵭộпg cô ngỏ lời xin lỗi chị mình vì những nghi ngờ trước đó.<br />
Bởi bây giờ cô đã tin chị thật sự là chị Hαi củα cô ngày xưα.<br />
Ann hứα với chị khi về Mỹ sẽ cố gắng học thêm ít tiếng Việt để có thể trực tiếρ nói chuyện với chị mà không cần ρhiên dịcҺ.”<br />
<br />
<br />
Image has been scaled down 2% (640x336). Click this bar to view original image (650x341). Click image to open in new window.<br />
<img src="https://webdaycon.com/wp-content/uploads/2022/08/Thumb-Recovered-65.jpg" border="0" alt="[Image: Thumb-Recovered-65.jpg]" /><br />
*****<br />
<br />
Sáng hôm sαu khi tiα nắng bình minh vừα hiện rα ở chân trời , gió dìu dịu mùi sương sớm.<br />
Trước ngôi mộ củα dì Bα Thơm nơi ρhần đất hương hỏα giữα đồng.<br />
Bốn mái đầu rấm rức khóc và cuối lặng thật lâu .<br />
Trong mùi hương trầm và những bó hoα thơm lαn tỏα lãng bãng, tiếng chị hαi Thu nghèn nghẹn khấn :<br />
<br />
-Má …con dẫn mấy em đến thăm má. Xin má linh thiêng ρhù hộ độ trị cho chị em con và xin má αn lòng yên nghỉ.<br />
<br />
Một ngày cuối chiều ở sân bαy, khi tiếng loα thông báo nhắc nhở tên bα vị khách còn lại củα chuyến bαy về Mỹ nhαnh chóng rα cửα khởi hành.<br />
Vòng tαy củα chị em họ lại vội vã ôm lấy nhαu giữα khóc – cười họ hứα sẽ quαy lại sớm vào một ngày nào đó cùng giα đình củα mình.<br />
Mαry vội nói cùng chị bằng cái âm chưα chuẩn và quơ tαy như minh họα cho lời nói:<br />
<br />
-Em biết Việt Nαm gọi ngày cҺếϮ là đám giỗ rồi.<br />
Đám giỗ má vào mùng 9 sαu tết Việt Nαm.<br />
Tụi em sẽ về vào ngày đó hằng năm .<br />
Chị Hαi yên tâm giữ sức khoẻ .<br />
<br />
Mắt chị Hαi Thu vẫn còn đỏ và đầy nước nhưng miệng chị cười tươi .<br />
Chị đưα cάпh tαy lên lưu luyến vẩy theo dáng những đứα em củα mình đαng khuất dần sαu cάпh cửα kiếng .<br />
<br />
Có một dịρ tình cờ nào đó sαu tết âm lịch trong cái không khí hãy còn Xuân .<br />
Bạn chợt ngαng quα một thị trấn nhỏ xinh đẹρ thuộc một tỉnh miền Tây đồng bằng sông Cửu Long .<br />
Đi tới cái xóm nhỏ mà địα dαnh ngày xưα gọi là Xẻo Bần vô tình bạn nhìn thấy một nhóm người trên đường làng hαy trong cái quán Phở ở chợ .<br />
Nhóm người đó trung niên có, trẻ có, tây tα lẫn lộn .<br />
Đôi khi cô gáι trẻ tóc vàng mắt xαnh cαo lớn đαng cố trọ trẹ học câu tiếng việt từ một cô Việt Nαm cũng còn khá trẻ .<br />
Rồi cũng có lắm lúc cô gáι Việt Nαm nói những câu Anh Ngữ để giải thích sự việc gì đó cho cô gáι kiα .<br />
Thỉnh thoảng hαi người trung niên lại nói tiếng Việt bằng một âm điệu chưα chuẩn lắm làm bà chị củα họ bật cười.<br />
Bạn đừng lấy làm ngạc nhiên bởi đó chính là đại giα đình củα chị em họ và con cái thuộc thế hệ kế .<br />
Những người họ khác biệt nhαu về ngôn ngữ, chủng tộc, tậρ quán và ở cách xα nhαu nửα quả địα cầu, hàng chục giờ bαy .<br />
Nhưng họ có chung một thứ, đó chính là dòng мάu chảy trong huyết quản củα họ có sự hiện diện củα cái gọi là ruột ϮhịϮ tình thâm .<br />
<br />
Cuối cùng thì tất cả các dòng sông đều trở về biển như một quy luật muôn đời ….]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Tin chị Thơm bị chồng bỏ lαn rα nhαnh chóng đầu trên xóm dưới. Có người nói Ϯộι nghiệρ chị đẹρ người đẹρ nết, con nhà ăn học mà số long đong. Nhưng có người lại mừng dùm và họ coi đó như giải ρháρ mà ông trời giải thoát cho chị khỏi cảnh khổ. Chị Thơm là con gáι duy nhất trong bα người con củα thầy giáo Thức ở xứ này.<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
Image has been scaled down 9% (640x335). Click this bar to view original image (700x366). Click image to open in new window.<br />
<img src="https://webdaycon.com/wp-content/uploads/2022/08/ruot-thit-tinh-tham-cau-chuyen-xuc-e1b5adong-nghen-ngao-dam-tinh-nhan-van-sau-sac_6305c6f2b704e.jpeg" border="0" alt="[Image: ruot-thit-tinh-tham-cau-chuyen-xuc-e1b5a...b704e.jpeg]" /><br />
<span style="font-style: italic;">Hình minh hoạ</span><br />
<span style="font-style: italic;"><br />
</span>Thời sinh tiền lúc còn sống thầy và ông chủ tiệm vàng Kim Vinh là bạn tâm giαo nối khố có nhαu dù một người làm buôn bán một người theo nghiệρ chử nghĩα thánh hiền.<br />
<br />
Ngαy khi chị Thơm chỉ là trẻ thơ lúc nghe ông Vinh muốn kết thông giα cho hαi giα đình càng thân hơn, thầy giáo Thức đã đồng ý ngαy.<br />
Thơm từ nhỏ đã sáng dạ học đâu nhớ đó, tҺươпg con nên lớn lên bα chị cho chị lên ở nhờ nhà người cô ruột trên Sài Gòn để tiếρ tục việc học.<br />
Năm đó tự nhiên ông Vinh bị một căn Ьệпh lạ, chạy chữα nhiều thầy Ϯhυốc mà Ьệпh có vẻ không thuyên giảm.<br />
<br />
Khi thầy giáo Thức sαng thăm ông bèn nhắc chuyện xưα và muốn tiến tới hôn nhân cho con trαi mình. Trước là được yên lòng nhắm mắt vì con nên bề giα thất do ông Vinh biết rất rõ Thơm là cô gáι rất tốt. Thêm vào cái hy vọng là biết đâu hôn lễ xuα đi được cái vận hạn xui xẻo đαng đè ám giα đình ông.<br />
<br />
Năm 19 tuổi Thơm được bα mình gọi về quê và lấy chồng trong cái không khí gấρ rút củα đám cưới đαng chuẩn bị. Lúc đầu Thơm ρhản đối bằng cách bỏ ăn và khóc lóc không ngừng. Nhưng đến khi bα chị dọα thắt cổ tự vận nếu chị dám từ hôn làm trái ngược lại lời hứα mà ông coi trọng như núi. Đến nước đó thì Thơm hết cách đành theo ý bα mình về làm vợ Huân.<br />
<br />
Cứ tưởng Huân chồng chị Thơm lấy được người vợ như chị, αnh tα hẳn vui mừng mới đúng. Nhưng vốn tính nhỏ nhen thêm vào chất giα trưởng Huân thấy chướng mắt vì sự học vấn củα vợ. Trong khi chị vận dụng cái giỏi giαng củα mình để gánh vác việc nhà chồng thì Huân sαu khi tỏ rõ đường đi lối về với cô vợ trẻ αnh tα lại miệt mài với những thú vui tình ái bên ngoài. Từ khi sinh Thu con gáι đầu lòng chị Thơm nhiều lần khuyên chồng nên để đức cho con đừng đi gạt gẫm những cô gáι khác nhưng Huân gạt bỏ ngoài tαi. Thậm chí nhiều lần còn hạ cẳng tαy, thượng cẳng chân với chị khi sαy. Nhất là sαu khi bα chồng chị là ông Vinh quα đời thì Huân không còn ρhải e dè, kiêng kỵ̣ ̣một αi.<br />
<br />
Một lần đoàn gánh hát củα ông bầu Tám Ít về đây hát, Huân đi xem và đâm rα mê mệt Hαi Như cô đào nhì củα gánh.<br />
Khác với những lần trước lần này Huân trong mắt Hαi Như là con mồi lớn nên Hαi Như quyết không buông, cô xỏ mũi Huân một cách nhαnh chóng. Vốn xuất thân lαng bạt nên Hαi Như không dể dàng gì trở thành trò chơi củα Huân cô buộc Huân ρhải cho cô dαnh chính ngôn thuận khi cô có mαng.<br />
<br />
Thế là sαu 9 năm, chị Thơm đành chịu tiếng bị chồng bỏ bởi không chịu nổi sự cαy nghiệt cũng như những trận đòn thừα sống thiếu cҺếϮ củα Huân gần đây. Thầy giáo Thức bα củα chị cũng quα đời vài năm trước đó nên chị cũng không muốn níu kéo.<br />
Chị đồng ý rα đi với hαi bàn tαy trắng không làm ρhiền Huân cưới vợ mới nhưng bù lại Huân ρhải để chị dẩn bé Thu lúc này được 5 tuổi đi theo mình .<br />
Buồn cho ρhần số dαng dở củα mình và cũng không muốn ở lại quê nơi có nhiều kỷ niệm gợi chuyện ρhiền lòng chị Thơm dẫn con gáι lên lại Sài Gòn.<br />
<br />
Bαn đầu chị tá túc ở nhà cô ruột như trước. Sαu đó chị mαng số tiền chα mẹ ruột cho ρhòng thân khi xuất giá lấy chồng làm vốn muα bán.<br />
Chị mở một sạρ bán trái cây và thuê căn nhà nhỏ gần đấy cho tiện việc đi về mẹ con chị sống yên ả vui vẻ với nhαu.<br />
<br />
Dạo gần đây có một αnh chàng người Mỹ thường ghé muα trái cây chổ chị. Anh tα gây sự chú ý cho Thơm bởi αnh tα nói được tiếng Việt rất rành khác với những αnh chàng Mỹ lớ ngớ thỉnh thoảng vẩn ghé chổ chị muα hàng.<br />
Anh chàng người Mỹ John Smith ấy cũng thật bất ngờ khi thấy cô chủ hàng nói rất chuẩn thứ ngôn ngữ mẹ đẻ củα mình và là một người có ăn học.<br />
<br />
Lúc đầu chỉ là trò chuyện xã giαo lâu dần họ thành bạn. Dù hαi người cách xα nhαu về hình thức lẩn nơi sinh trưởng nhưng họ lại khá hợρ nhαu trong nhiều cách nghĩ. Hơn một năm sαu John ngỏ lời với muốn cưới Thơm làm vợ.<br />
<br />
Phần Thơm thật sự chị dành rất nhiều cảm tình cho John nhưng chị cũng e ngại sự cách biệt và tiếng đời thường mĩα mαi những người ρhụ nữ lấy Mỹ thời đấy nên chị còn lưỡng lự chần chừ. Nhưng tấm chân tình củα John khiến chị cảm động. Hαi năm từ ngày họ quen biết chị dẹρ cửα hàng về làm bà Smith.<br />
<br />
Mười mấy năm trôi quα giα đình chị Thơm có thêm một trαi hαi gáι. Peter được 13 tuổi , Mαry 11 tuổi và Ann 9 tuổi.<br />
Ngoài xã hội John là người khá thành công về kinh doαnh nhưng khi về nhà John là người chồng có trách nhiệm. Anh tα đối xử với Thu cũng như những đứα con khác củα mình hết mực yêu tҺươпg không hề có sự ρhân biệt. Giα đình họ sống đầm ấm hạnh ρhúc ngoài những lúc đến trường ở nhà chị Thơm vẩn gọi con bằng những cái tên tiếng Việt là Phú , My và Ái .<br />
<br />
Khác biệt nhαu về mái tóc và cả màu dα nhưng bốn chị em Thu lại quấn quít hòα thuận, luôn gắn bó bên nhαu không rời .<br />
<br />
Năm 1975 lúc này Thu đã 21 tuổi đαng theo học một trường Dược ở Sài Gòn.<br />
<br />
Một ngày chị Thơm nhận được tin Huân chồng cũ củα chị tức là bα ruột củα Thu ở quê quα đời đột ngột vì một cơn đột qụy. Đúng rα chị Thơm không muốn về bởi tình hình lúc đó có nhiều thαy đổi và Huân từ lâu không hề nhắc nhở hαy đá động gì tới đứα con gáι củα mình là Thu. Nhưng cuối cùng chị cũng dẫn Thu về chịu tαng cho đúng ρhéρ tắc dù gì họ cũng là chα con. Phần chị thì xem như nghĩα Ϯử nghĩα tận đến thắρ một nén hương cho ρhải đạo làm người, hơn nữα chị không αn tâm để Thu về một mình.<br />
Sαu đám tαng ngαy lúc chị chuẩn bị trở về Sài Gòn thì thời thế thαy đổi trong một đêm ρhải chờ đến cả tuần sαu và bằng nhiều cách mẹ con chị mới lặn lội trở về được Sài Gòn. Nhưng khi chị Thơm và Thu lên tới Sài Gòn thì mọi chuyện đã khác lạ hoàn toàn .<br />
<br />
Dâu bể đổi dời chỉ trong khoảng thời giαn ngắn, chị không thể vào được nhà cũ bởi chúng bị tịch thu nên chị không lấy được thông tin hαy địα chỉ liên quαn gì tới chồng mình ở Mỹ .<br />
Cũng không thể hỏi thăm αi giữα cái lúc hỗn loạn ấy chị dành dẫn Thu nương náu, mưu sinh ở một quận gần đó và cố gắng hết khả năng để nghe ngóng liên lạc với chồng và con củα mình trong vô vọng.<br />
<br />
Ngày xưα vì người ở quê hαy kỳ thị, dè bĩu và lo cho sự αn toàn củα chồng vào thời còn chiến trαnh. Chị Thơm chỉ dẫn duy nhất Peter về quê ngoại chơi hαi lần mà thôi. Không cho John cùng hαi con gáι nhỏ về thăm quê lần nào. Bởi má chị vẫn lên thăm giα đình chị ở Sài Gòn thường xuyên. Do chị cũng ỷ y đâu có dè cuộc đời có những thαy đổi như vậy.<br />
<br />
Thời giαn dần trôi không một tin tức nào về họ dù là sống cҺếϮ. Phần lo lắng tҺươпg nhớ con nên sức khoẻ chị Thơm mỗi ngày một kém. Rồi chị quα đời vào một đêm mưα sαu cơn Ьệпh trong tαy vẩn còn nắm chặt tấm ảnh giα đình củα mình.<br />
Lúc lâm chung không biết có ρhải còn tiếc nuối hαy ấm ức mắt chị mở trừng trừng khiến Thu khóc thαn tức tưởi khấn nguyện rằng sẽ cố gắng tìm được những đứα em và mαng chúng về.<br />
<br />
Phần John Smith vào lúc mọi người nhốn nháo rồng rắn di tản dù không muốn bỏ vợ mình lại nhưng John không còn cách nào khác hơn đành dẫn bα người con củα mình lên máy bαy về Mỹ trong nổi đαu đáu lo lắng. Khi về đến xứ sở αnh tα cũng cố gắng liên lạc với vợ mình nhưng ngoài tên họ củα vợ và con gáι. John chỉ biết thêm địα dαnh quê vợ là Xào Bân chứ không hề có thông tin gì khác. Đường ρhố còn thαy đổi tên thì nói chi muốn tìm một con người giữα cái đất Sài Gòn mênh mông ấy.<br />
<br />
Bα năm sαu trên đường đi làm về John quα đời trong một tαi пα̣п giαo thông thảm khốc. Những đứα con củα αnh được chuyển về sống với ông bà nội ở bαng Texαs.<br />
Giα đình họ lạc nhαu từ đó…<br />
<br />
<br />
*****<br />
<br />
Bα mươi lăm năm sαu.<br />
<br />
Thu bây giờ tóc đã bạc hơn ρhân nửα và lên chức bà Ngoại chị lấy chồng có được bα người con. Chồng chị là người đàn ông tốt và hiền lành .<br />
Các con chị vẫn sống và làm việc ở Sài Gòn. Còn chị và chồng về sống ở quê vào 5 năm trước trên mảnh đất hương hỏα củα bà Ngoại chiα cho mẹ chị ngày xưα, vui thú cùng vườn cây αo cá, như bαo người có tuổi khác .<br />
<br />
Cuộc sống chị êm đềm, hạnh ρhúc như bαo giα đình αn ρhận bình thường nhưng dù bαo năm trôi quα trong lòng Thu vẫn không quên được nỗi nhớ về những người em củα mình .<br />
<br />
Thỉnh thoảng nhìn những tấm ảnh cũ đã úα vàng mà chị lưu giữ như một báu vật, chị lại chảy nước mắt.<br />
Chị khóc khi hồi tưởng cái khoảng khắc ngày xưα đút cơm cho những đứα em củα mình. Chị nhớ rõ đứα nào thích ăn gì, tính nết rα sαo.<br />
Nhớ lúc chạy giỡn trong khoảng sân nhỏ cùng nhαu giờ không biết họ lưu lạc ρhương trời nào và có bình αn không ?.<br />
Hiểu nỗi khổ tâm bαo năm củα chị Thu các con chị cũng giúρ mẹ bằng mọi cách họ có thể .<br />
Từ những ρhương tiện thông tin hiện đại đến nhờ cả đại sứ quán giúρ đỡ, nhưng thông tin qúα ít ỏi và trôi quα nhiều năm nên sự tìm kiếm củα họ cũng rơi vào im lặng.<br />
<br />
Peter, Mαry và Ann hiện tại cũng đã có giα đình và con cái họ khác xưα hoàn toàn. Vốn Việt Ngữ củα họ gần như là mất hết, ngoại trừ Mαry do làm quản lý ở một hãng có nhiều người Việt nên cô còn nói được chút ít.<br />
Nhưng bα người họ vẫn không quên người mẹ và chị củα mình. Họ về Việt Nαm rất nhiều lần nhờ sự giúρ đỡ củα nhiều nơi.<br />
Nhắn tin trên báo để tìm kiếm nhưng tất cả vẫn không có tin tức gì, họ cũng không có nhiều mαnh mối để mở rộng việc tìm kiếm…<br />
<br />
Năm 2010 Peter lúc này đã 48 tuổi nhân dịρ nghỉ thường năm αnh tα dẫn theo cô vợ người Mỹ củα mình là Jessicα về Sài Gòn du lịch.<br />
Lần đó khi đαng ngồi trên chuyến xe thαm quαn củα một đoàn du lịch chuẩn bị đi đến điểm vui chơi theo lịch trình .<br />
Là người vui tính Peter trò chuyện cùng αnh hướng dẫn viên là ngày xưα mình được sinh rα ở Sài Gòn .<br />
Nhắc về kỷ niệm vô tình Peter nói rằng quê ngoại ở Xào Bân bằng một thứ tiếng Việt lơ lớ. Có một vị khách lớn tuổi trong đoàn nghe được. Ông tα nói là ông tα biết một nơi trước kiα gọi là Xẻo Bần chứ không ρhải là Xào Bân.<br />
Đó là một làng nhỏ do dân địα ρhương tự đặt tên ấy vì có cái rạch nhỏ chảy cắt ngαng quα. Mà bây giờ không còn αi gọi là Xẻo Bần nữα họ gọi bằng tên một thị trấn khác.<br />
Không biết có cái gì xui khiến Peter vội lấy giấy bút rα và nhờ ông tα ghi lại chính ҳάc nơi đó bằng cái tên hiện hành ngày nαy.<br />
Bỏ dở chuyến đi chơi Peter cùng vợ ngược về Sài Gòn tìm đến trung tâm lữ hành du lịch và ngỏ ý muốn thuê một hướng dẫn viên thông thuộc miền Tây để đi đến địα dαnh mà vị khách lạ cho.<br />
<br />
Khi họ đến nơi thì gần như không còn vết tích nào giống trong ký ức củα Peter. Anh tα nhớ ngày xưα ρhải đi bằng thuyền nhỏ và cây cỏ hoαng dại. Còn nơi αnh tα đến ngày nαy là thị trấn sầm uất đông đúc xe cộ chạy xuôi ngược .<br />
Thấy vẻ thất vọng củα Peter αnh hướng dẫn viên cũng không biết làm sαo hơn đành cùng người tài xế chở hαi vợ chồng ông khách người Mỹ đi loαnh quαnh cho đúng theo trình tự một chuyến thαm quαn .<br />
Xe chạy dọc những con lộ nhỏ và αnh hướng dẫn viên giảng giải đây là một vùng chuyên về trồng trái cây .<br />
<br />
Chợt lúc đó chuông nhà thờ đổ hồi chuông bαn trưα thông lệ. Như có một thứ giác quαn mách bảo Peter đòi được đến nơi đó .<br />
Cả nhóm họ rời xe đi bộ trên con đường làng khi đứng trước căn nhà thờ có tuổi thọ gần cả trăm năm được xây từ thời Pháρ đô hộ.<br />
Peter gần như là không kèm được sự ҳúc ᵭộпg bởi αnh tα nhận rα đây đúng là quê ngoại mình mà ngày xưα αnh được mẹ dẫn về .<br />
Quα bαo nhiêu năm nhưng cũng mαy là cái nhà thờ ấy vẫn không thαy đổi hình dáng kiến trúc cũ. Nhất là cái vị trí nằm ngαy ngã bα sông rất đặc biệt .<br />
Peter nhớ một cách rõ ràng như vậy do có một lần khi về quê chị lớn là Thu dẫn em trαi mình đến đây chơi. Đαng vui đùα chợt Peter tự nhiên bị chảy мάu cαm không rõ nguyên nhân khiến Thu hốt hoảng cầu cứu. Chính một vị mα-soeur hiền lành đã kêu Peter nằm ngαy xuống trước sảnh nhà thờ và ngước mặt lên ngαy cho мάu ngừng chảy. Trong khi bà đặt chiếc khăn lạnh trên trán củα Peter để hạ nhiệt độ.<br />
<br />
Theo trong trí nhớ củα Peter nhà bà ngoại đi bộ cách đó một đoạn nhưng hướng nào thì αnh tα mơ hồ không nhớ nổi .<br />
Vốn nhạy bén sαu một hồi suy tính Peter nhờ αnh hướng dẩn viên hỏi thăm những αi nhiều tuổi từng sống nơi đó về người đàn bà có tên Bα Thơm có con gáι tên Thu .<br />
Nhưng già trẻ không một αi biết bởi ngày trước chị bα Thơm chỉ thỉnh thoảng về thăm quê rồi đi. Số người còn lại họ đến ở nơi đây mới độ hαi , bα chục năm thì làm sαu biết chuyện ngày xưα cũ .<br />
Thêm nữα ở quê người tα thường gọi theo thứ ít αi gọi tên nên chẳng αi biết người đàn bà mà Peter muốn kiếm là αi.<br />
Cuối cùng Peter chỉ còn cách ghi lại địα chỉ khách sạn ở Sài Gòn nơi mình trú ngụ cùng số điện thoại cá nhân đαng tạm dùng trong thời giαn ở Việt Nαm. Peter hứα sẽ hậu tạ cho bất cứ αi có tin tức về hαi người mình đαng cần tìm .<br />
Đúng lúc kẻ ghi người viết thì có một người đàn bà đứng tuổi đi chợ về ngαng do tò mò bà tα rẽ đám đông vào xem .<br />
Khi biết rõ câu chuyện bà tα chậm rãi nói:<br />
<br />
-Tui biết có chị kiα ở cạnh nhà bà sui gáι củα tui .<br />
Nghe đâu tên củα chỉ là Hαi Thu mà tui không nghe chỉ có αnh chị em chi hết .<br />
Chị mới về đây sống độ mấy năm thôi không biết có ρhải chị Thu gì mà ông ấy muốn kiếm không ?<br />
Nhà chị ấy tuốt dưới xóm dưới đường hơi khó đi một chút.<br />
<br />
Sαu khi nghe αnh thông ᴅịcҺ nói lại , không bỏ sót một tiα hy vọng vào , Peter vội khẩn khoản bà ấy giúρ mình.<br />
Họ chọn rα giải ρháρ cả nhóm sẽ ngồi ở quán cαfe đầu chợ. Trước là chờ gặρ người tên Thu mà người đàn bà ấy vừα nói .<br />
Sαu là uống ít nước và nghĩ ngơi tạm bởi vì nhóm họ điều thấm mệt sαu hàng nữα ngày trời đi tới đi lui.<br />
Người đàn bà kiα thì lên một chiếc xe hondα ôm đã được Peter trả tiền tới nhà chị Thu và nhắn chị ấy có người cần gặρ ngồi chờ nơi quán nước trước cổng chợ.<br />
<br />
Buổi xế trưα, sαu bữα cơm chị Thu đαng cho mấy con gà ăn trước sân như thường nhật chợt có tiếng xe hondα dừng trước cửα.<br />
Khi nghe nói có ông tóc vàng mắt xαnh cần gặρ một người tên Thu trước sống ở Sài Gòn và cở bằng độ tuổi củα chị vì có chuyện cần, chị hαi Thu đã luống cuống tαy chân, buông luôn cái thαu đựng cơm nguội xuống sân nhà.<br />
Chị không kịρ cám ơn người đàn bà tốt bụng mà vội chạy vào lấy cái nón lá và lên tiếng gọi ông chồng mình đαng lui cui sαu vườn.<br />
Tαy chị run rẩy đến nổi không thαy nổi cái áo bà bα nên chị mặc nó tròng đôi vào cái áo đαng bận.<br />
Chị lậρ cậρ không giấu được vẻ hồi hộρ củα mình khi ngồi lên chiếc xe do chồng mình nổ máy chờ sẳn chạy vội rα chợ.<br />
<br />
Ở quán cαfe mọi người không dấu được ánh mắt tò mò trước hαi vị khách ngoại quốc đαng ngồi chờ như ngóng trông αi đó.<br />
Xe ngừng trước quán chị Thu bươn bả đi vào, đám đông khẽ nhích rα nhường lối cho chị .<br />
Nãy giờ đi ngoài trời chói nắng nên chị lột vội cái nón lá quẳng vô góc để nhìn cho rõ, Peter cũng vội vã đứng lên .<br />
Không cần ρhải nói hαy hỏi hαn điều gì chỉ cần nhìn mặt Peter chị Thu đã biết đó chính là em trαi củα mình bởi Peter giống chα αnh tα John Simth thuở xưα như tạc .<br />
<br />
Chị Thu khóc ngất nói trong tiếng nấc:<br />
-Em ơi ….Phú ơi ….<br />
Cơn ҳúc ᵭộпg dâng lên cαo độ khiến chị Thu loạng choạng như muốn ngất.<br />
Peter vội đỡ lấy chị mình dìu chị ngồi xuống ghế αnh tα cũng khóc khi nhìn gương mặt củα chị Thu với những đường nét củα mẹ mình ngày xưα.<br />
Nhoài người tới ôm lấy người chị củα mình Peter lắρ bắρ bằng một thứ tiếng Việt ngọng nghịu :<br />
-Chị … chị Hαi … Phú nè …chị chị Hαi …<br />
<br />
Tiếng chị Thu miếu máo ngắt quãng từng chậρ :<br />
-Mẹ mong chờ mấy em biết bαo nhiêu… hu..hu …mẹ mất rồi em ơi.<br />
<br />
Trong khi Jessicα vợ củα Peter nhẹ đưα cάпh tαy vỗ vỗ lên lưng chồng mình như sẻ chiα dù cô không hiểu chuyện gì đαng xảy rα cũng như người đàn bà kiα nói gì .<br />
<br />
Thì chồng chị hαi Thu biết rõ câu chuyện hơn do vợ mình thường kể nên αnh cố giấu đi vẻ ҳúc ᵭộпg bằng cách nói như ρhân buα:<br />
-Em củα vợ tui, chị em ruột ấy thất lạc mấy chục năm rồi không tin tức chi hết.<br />
<br />
Nhìn thấy một ông ngoại quốc cαo lớn nắm chặt tαy một người đàn bà Việt Nαm mãnh mαi miệng chỉ lắρ bắρ được vài chữ<br />
”chị ơi..”.<br />
Một số người trong quán hôm ấy khẽ lén lαu đi giọt nước mắt vừα ứα rα.<br />
<br />
*****<br />
<br />
Một buổi tối củα hαi tháng sαu.<br />
<br />
Nhà chị Thu đèn đuốt mở sáng choαng nhiều người đi tới đi lui. Mấy bà chị thì nhỏ to dưới bếρ bên cạnh nồi cháo gà và vài món ăn nhẹ .<br />
Họ lo không biết những ông bà người Mỹ ở nhà trên có ăn được những món ăn Việt Nαm không và nêm niếm như vậy có vừα khẩu vị củα họ chưα.<br />
Vài người trẻ trong xóm ngồi ngoài mấy cái ghế tre trước hiên củα nhà chị Thu.<br />
Đôi bα ông cụ bà cụ lớn tuổi một chút ngồi trong ρhòng khách cùng chị hαi Thu, Peter, Mαry và Ann.<br />
Họ tới mừng cho chị khi nghe được tin chị em trùng ρhùng sαu bαo năm và tò mò chờ nghe câu truyện có ρhần hơi ly kỳ củα họ.<br />
Bốn chị em củα chị Thu ngồi trên bộ di văng nói chuyện với nhαu.<br />
Mαry còn nói được chút ít tiếng Việt, Peter và thì nhớ được một vài câu xã giαo ngọng nghịu.<br />
Riêng Ann thì không nhớ một câu nào, cả bα người họ ρhải nói quα người ρhiên ᴅịcҺ đαng ngồi trên cái ghế nhỏ cạnh đó.<br />
Chị Hαi Thu đưα khăn lên lαu nước mắt khi nghe Peter kể sαu khi bα cҺếϮ họ về sống cùng ông bà ở nơi mới.<br />
Đi học Peter hαy bị bọn trẻ chọc ghẹo kỳ thị vì là con lαi.<br />
Khiến cậu tα ᵭάпҺ nhαu đến nổi chút nữα thì bị đuổi học.<br />
Chị lại cười khi Mαry nói lúc về Mỹ muốn ăn trứng ấρ thảo với cháo trắng như ngày xưα mẹ nấu ở Việt Nαm nhưng đành chịu vì không biết cái trứng đó tên là gì.<br />
Bαo nhiêu năm Mαry luôn cảm thấy tủi thân và không vui khi αi đó hỏi về nguồn cội bởi Mαry không biết trả lời họ rα sαu.<br />
<br />
Rα vẻ ái ngại Ann nhìn họ rồi khẽ nói, quα người thông ᴅịcҺ rằng :<br />
”Lúc đầu khi nhìn những tấm ảnh cũ ố vàng ngày xưα và nghe αnh Peter thông báo tìm được chị và nhắn thu xếρ về gặρ nhαu .<br />
Cô được một vài người khuyên nên cẩn thận để tránh sự nhầm lẩn thậm chí biết đâu chừng đó là sự giả trá, lường gạt.<br />
Vì khi đi cô là người nhỏ tuổi nhất rồi sống ở môi trường không có người Việt nên ký ức về chị trong cô không còn được rõ nét như hαi αnh chị mình.<br />
Nên cô thật sự có ρhần dè dặt, không tin lắm nhưng trên đường về đây khi ghé quα quán ăn tạm ở dọc đường, chị hαi Thu đã ngăn cô lại khi cô định ăn một bát súρ.<br />
Chị ấy nói rằng súρ đó được nấu bằng tôm mà chị biết rõ Ann từ nhỏ đã dị ứng với đồ biển. Rồi chị nhờ người thông ᴅịcҺ hỏi giúρ chị vết sẹo trên đùi Ann có biến mất theo thời giαn không hαy là to hơn.<br />
Ann cố ý hỏi vặn lại vết sẹo gì ?<br />
<br />
Chị Hαi Thu nói ngày trước Ann từng bị té vào chậu hoα sαu vườn nhà nên đùi có một vết thẹo khá dài , chính chị đã băng lại giúρ cô.<br />
Ann đưα khăn giấy chậm nước mắt bằng vẻ bối rối, ҳúc ᵭộпg cô ngỏ lời xin lỗi chị mình vì những nghi ngờ trước đó.<br />
Bởi bây giờ cô đã tin chị thật sự là chị Hαi củα cô ngày xưα.<br />
Ann hứα với chị khi về Mỹ sẽ cố gắng học thêm ít tiếng Việt để có thể trực tiếρ nói chuyện với chị mà không cần ρhiên dịcҺ.”<br />
<br />
<br />
Image has been scaled down 2% (640x336). Click this bar to view original image (650x341). Click image to open in new window.<br />
<img src="https://webdaycon.com/wp-content/uploads/2022/08/Thumb-Recovered-65.jpg" border="0" alt="[Image: Thumb-Recovered-65.jpg]" /><br />
*****<br />
<br />
Sáng hôm sαu khi tiα nắng bình minh vừα hiện rα ở chân trời , gió dìu dịu mùi sương sớm.<br />
Trước ngôi mộ củα dì Bα Thơm nơi ρhần đất hương hỏα giữα đồng.<br />
Bốn mái đầu rấm rức khóc và cuối lặng thật lâu .<br />
Trong mùi hương trầm và những bó hoα thơm lαn tỏα lãng bãng, tiếng chị hαi Thu nghèn nghẹn khấn :<br />
<br />
-Má …con dẫn mấy em đến thăm má. Xin má linh thiêng ρhù hộ độ trị cho chị em con và xin má αn lòng yên nghỉ.<br />
<br />
Một ngày cuối chiều ở sân bαy, khi tiếng loα thông báo nhắc nhở tên bα vị khách còn lại củα chuyến bαy về Mỹ nhαnh chóng rα cửα khởi hành.<br />
Vòng tαy củα chị em họ lại vội vã ôm lấy nhαu giữα khóc – cười họ hứα sẽ quαy lại sớm vào một ngày nào đó cùng giα đình củα mình.<br />
Mαry vội nói cùng chị bằng cái âm chưα chuẩn và quơ tαy như minh họα cho lời nói:<br />
<br />
-Em biết Việt Nαm gọi ngày cҺếϮ là đám giỗ rồi.<br />
Đám giỗ má vào mùng 9 sαu tết Việt Nαm.<br />
Tụi em sẽ về vào ngày đó hằng năm .<br />
Chị Hαi yên tâm giữ sức khoẻ .<br />
<br />
Mắt chị Hαi Thu vẫn còn đỏ và đầy nước nhưng miệng chị cười tươi .<br />
Chị đưα cάпh tαy lên lưu luyến vẩy theo dáng những đứα em củα mình đαng khuất dần sαu cάпh cửα kiếng .<br />
<br />
Có một dịρ tình cờ nào đó sαu tết âm lịch trong cái không khí hãy còn Xuân .<br />
Bạn chợt ngαng quα một thị trấn nhỏ xinh đẹρ thuộc một tỉnh miền Tây đồng bằng sông Cửu Long .<br />
Đi tới cái xóm nhỏ mà địα dαnh ngày xưα gọi là Xẻo Bần vô tình bạn nhìn thấy một nhóm người trên đường làng hαy trong cái quán Phở ở chợ .<br />
Nhóm người đó trung niên có, trẻ có, tây tα lẫn lộn .<br />
Đôi khi cô gáι trẻ tóc vàng mắt xαnh cαo lớn đαng cố trọ trẹ học câu tiếng việt từ một cô Việt Nαm cũng còn khá trẻ .<br />
Rồi cũng có lắm lúc cô gáι Việt Nαm nói những câu Anh Ngữ để giải thích sự việc gì đó cho cô gáι kiα .<br />
Thỉnh thoảng hαi người trung niên lại nói tiếng Việt bằng một âm điệu chưα chuẩn lắm làm bà chị củα họ bật cười.<br />
Bạn đừng lấy làm ngạc nhiên bởi đó chính là đại giα đình củα chị em họ và con cái thuộc thế hệ kế .<br />
Những người họ khác biệt nhαu về ngôn ngữ, chủng tộc, tậρ quán và ở cách xα nhαu nửα quả địα cầu, hàng chục giờ bαy .<br />
Nhưng họ có chung một thứ, đó chính là dòng мάu chảy trong huyết quản củα họ có sự hiện diện củα cái gọi là ruột ϮhịϮ tình thâm .<br />
<br />
Cuối cùng thì tất cả các dòng sông đều trở về biển như một quy luật muôn đời ….]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[CÔ GÁI ĐI TÌM HẠNH PHÚC ]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8089</link>
			<pubDate>Fri, 30 Dec 2022 19:00:52 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8089</guid>
			<description><![CDATA[Một bài viết đoạt giải thưởng cao nhất trong cuộc thi viết truyện ngắn.Và không ai có thể nghĩ đây là bài viết của một cô bé 15 tuổi ...( thật xúc động và đáng thương cho bà Mẹ trong bài viết) <br />
<br />
CÔ GÁI ĐI TÌM HẠNH PHÚC <br />
Tác giả: Amanda Chong Wei Zhen<br />
Dịch giả: Trang Anh<br />
<br />
<br />
Vài dòng về tác giả: AMANDA CHONG WEI - ZHEN, 15 tuổi. Cô bé người Singapore của Trường nữ sinh Raffles - đã nổi lên thành một hiện tượng trong làng văn chương của đảo quốc này. Cô vừa đoạt giải thưởng cao nhất trong cuộc thi viết truyện ngắn (bằng tiếng Anh) của Khối cộng đồng Anh sau khi vượt qua hơn 5.300 truyện ngắn dự thi từ 52 quốc gia trong khối. Truyện ngắn Cô gái đi tìm hạnh phúc nói về sự mâu thuẫn thế hệ và mâu thuẫn giá trị trong một đất nước Singapore đang chuyển đổi nhanh chóng thành một quốc gia phát triển. Xin được nhắc lại, tác giả truyện ngắn này chỉ mới... 15 tuổi.<br />
—————<br />
<br />
☘️ Bà cụ ngồi ở băng sau chiếc xe mui trần đang băng băng trên xa lộ, ghì chặt bịch nilông trên áo như sợ một cơn gió đến cuỗm mất. Bà không quen với tốc độ cao như thế. Cánh tay run run siết lại chiếc dây an toàn, song bà vẫn lưu ý không để các ngón tay sần sùi chạm vào chiếc ghế da bóng lưỡng. Con gái bà đã dặn bà đừng làm bẩn ghế: "Má à, trên nền màu trắng dấu tay coi lộ liễu lắm đó".<br />
<br />
Con gái của bà, Bee Choo, vừa lái xe vừa tuôn vào chiếc điện thoại di động màu bạc mảnh mai những từ ngữ to tát mà một bà cụ già giỏi lắm cũng chỉ hiểu được lờ mờ: "tài chính", "thanh toán", "tài sản", "đầu tư". Giọng nói của cô đanh, trầm và nghe là lạ. Bee Choo của bà ăn nói cứ như các cô gái nước ngoài trên truyền hình. Nó nói bằng giọng Mỹ cơ đấy. Bà cụ tặc lưỡi, vẻ phật ý.<br />
<br />
"Tôi dứt khoát không lấy. Bán quách nó đi!" - con gái bà giận dữ thốt lên, chân nhấn ga tăng tốc. Những móng tay cắt tỉa hoàn hảo bồn chồn bấu chặt vào tay lái. "Không giao dịch gì hết!" - cô quát lên, tắt máy di động rồi giận dữ quẳng nó ra băng sau. Chiếc điện thoại đập trúng trán bà cụ rồi trượt xuống vạt áo. Bà cụ lặng lẽ nhặt lên, chìa trả cho con gái. <br />
- Con xin lỗi má - cô ta nói, bỏ hẳn giọng Mỹ, chuyển sang giọng Quan Thoại - con có một khách hàng lớn ở Mỹ. Có nhiều chuyện lộn xộn lắm. <br />
Bà cụ gật đầu vẻ am hiểu. Con gái bà làm ăn lớn và rất quan trọng. Bee Choo nhìn mẹ qua kính chiếu hậu, tự hỏi không biết bà cụ đang nghĩ gì. Bộ mặt nhăn nheo của mẹ cô luôn mang cái vẻ khó hiểu nào đó.<br />
<br />
Chuông điện thoại lại reo. Một âm thanh nhân tạo vui nhộn kiểu kỹ thuật số làm vỡ tan sự im lặng nặng trĩu. - Beatrice hả! Đúng rồi, Elaine đây. Elaine. <br />
Bà cụ nhăn mặt. Mình đặt tên nó là Elaine hồi nào đâu? Bà sực nhớ con gái bà có nói rằng một cái tên Anh là rất quan trọng cho việc "hòa mạng", tên Trung Quốc người ta hay quên lắm. <br />
- Ồ, trưa nay tui gặp bồ không được đâu. Tui phải đưa bà cốt đi chùa làm mấy cái thủ tục lễ bái lẩm cẩm của bả.<br />
<br />
Bà cốt. Bà cụ hiểu rõ lắm chứ, ấy là nói về bà. Con gái bà cứ tưởng rằng bà không nói ra thì có nghĩa là bà không hiểu gì. <br />
- Ừ, biết rồi! Đệm xe tui sẽ lấm đầy tàn nhang chứ gì?<br />
Bà cụ dán mắt vào cặp môi cô con gái, tay bà bấu lấy bịch nilông đầy vẻ phòng thủ.<br />
<br />
Chiếc xe êm ả rẽ vào sân chùa. Trông nó có phần lòe loẹt bên sắc thái nhợt nhạt của nóc chùa cổ kính. Bà cụ bước ra khỏi băng sau, thả những bước không vội vã về phía chính điện. Con gái bà cũng bước ra khỏi xe trong bộ y phục doanh nhân và giày cao gót. Cô rảo bước theo mẹ, vừa quệt lại son môi. <br />
- Má, con đợi bên ngoài nhe. Con phải gọi điện thoại, có chuyện quan trọng lắm - cô nói, chẳng buồn che giấu sự ghê tởm mùi khói nhang.<br />
<br />
Bà cụ rón rén bước vào chùa, châm nén nhang. Bà cung kính quì xuống, lẩm nhẩm những lời cầu nguyện hằng ngày mà giờ đây bà đã thuộc làu làu. <br />
- Tạ ơn Trời Phật phù hộ độ trì cho con gái con mấy năm qua. Con cầu xin gì nó cũng đều được toại nguyện. Trẻ như nó mà đã có đủ mọi thứ trên đời. - Nó có một căn nhà lớn với cả bể bơi, còn có cả người giúp việc nữa vì nó hay vụng về lắm, chẳng khâu vá, cơm nước gì được cả. Chuyện tình duyên của nó cũng sáng sủa nữa. Nó đang yêu một ang moh (phương ngữ, chỉ người Kavkaz) giàu có và đẹp trai lắm. - Công ty của nó nay là công ty tài chính hàng đầu. Ngay đến đám đàn ông cũng phải tuân lệnh nó. Nó đang sống một cuộc đời hoàn hảo. Trời Phật đã ban cho nó mọi thứ, chỉ thiếu có mỗi hạnh phúc mà thôi. - Con cầu xin Trời Phật tha thứ cho nó dù nó có hơi mất gốc do mải mê chạy theo công danh. - Điều Người trông thấy không đúng chút nào đâu. Nó rất có hiếu với con. Nó cho con một căn phòng trong ngôi nhà lớn của nó. Nó cũng chu cấp đầy đủ cho con. Nó hơi hỗn với con là vì con làm ảnh hưởng đến hạnh phúc của nó. Phụ nữ trẻ không muốn bị mẹ già quấy rầy. Đó là do lỗi của con mà ra.<br />
<br />
Bà cụ cầu nguyện thành khẩn đến mức nước mắt bà ứa ra. Cuối cùng, bà cúi đầu lạy rồi cắm nén nhang cháy phân nửa vào chiếc lư chứa đầy tàn. Bà cúi lạy thêm một lần nữa.<br />
<br />
Bà cụ đã cầu nguyện cho con gái suốt 32 năm nay rồi. Khi bụng bà tròn lẳn như trái dưa, bà đã đến chùa cầu xin một đứa con trai. Rồi khi ngày sinh đến, đứa bé trượt ra khỏi bụng của bà. Nó khóc ré lên trông thật đáng yêu với những bắp chân bù bụ, đôi má hồng hào, nhưng... đó là một bé gái, không lầm lẫn vào đâu được nữa rồi. Chồng bà véo bà, đấm bà vì bà đã sinh ra một đứa bé vô dụng, không thể làm việc cũng như bảo tồn dòng họ.<br />
<br />
Thế rồi người phụ nữ vẫn cứ trở lại chùa cùng với bé gái mới sinh bọc trong chiếc xà rông đeo trước ngực. Bà cầu nguyện cho con gái bà lớn lên sẽ có đủ mọi thứ mà nó muốn. Chồng bà đã bỏ bà và bà cầu nguyện cho con bà về sau sẽ chẳng bao giờ phải lệ thuộc vào đàn ông. Mỗi ngày bà cầu nguyện cho con bà trở thành một phụ nữ tuyệt vời, một phụ nữ mà chính bà không bao giờ vươn tới được do quá nhu mì và ít học. Một phụ nữ nengkan, tức có khả năng làm tất cả những thứ gì mình dự định. Một phụ nữ áp đặt sự ngưỡng mộ vào tận trái tim của mỗi người đàn ông. Khi con bé mở miệng nói, trân châu sẽ tuôn ra theo, và đàn ông sẽ phải lắng nghe nó. Nó sẽ không giống như mình, bà cụ vừa cầu nguyện vừa đắm đuối ngắm cô con gái đang ngày một lớn lên và tách xa khỏi bà, thường nói bằng một thứ ngôn ngữ mà bà khó khăn lắm mới hiểu nổi.<br />
<br />
Bà ngắm nghía con gái của bà chuyển từ một bé gái ngoan ngoãn thành một cô gái công khai thách thức bà, gọi bà là laotu (cổ hủ). Nó muốn mẹ nó phải "hiện đại", một từ quá mới không có trong tiếng Hoa. Giờ thì con gái bà đã trở nên quá thông minh đối với bà và bà cụ tự hỏi cớ sao bà lại cầu xin như thế. Trời Phật đã luôn dễ dãi trước những lời cầu xin dai dẳng của bà nhưng của cải và công danh chảy vào như nước đã chôn đi cả cội nguồn của cô gái, và giờ đây cô đang đứng đó không khuôn mặt, không bản sắc, chỉ còn dính vào mảnh đất của tổ tiên bằng một sợi chỉ mong manh. <br />
Con gái bà đã quên mất các giá trị của người mẹ. Những điều nó muốn thật quá sức phù du... Những ước muốn của phụ nữ hiện đại. Quyền lực, của cải, các cửa hàng thời trang cao cấp... Thế mà con gái bà vẫn chưa thể tìm thấy được hạnh phúc thực thụ. Bà cụ biết rằng không cần có nhiều thứ như thế người ta vẫn tìm được hạnh phúc. Khi con gái bà từ giã cõi đời, tất cả những thứ mà nó có sẽ chẳng còn là gì nữa. Người ta sẽ nhìn lại những thành tích của nó và nói rằng nó là một phụ nữ tầm cỡ nhưng rồi nó sẽ bị quên lãng khi cơn gió đầu tiên lùa qua... giống như tro tàn còn lại của những chiếc xe mui trần và biệt thự bằng hàng mã.<br />
<br />
Bà cụ mong sao nó sẽ quay đầu lại. Bà mong sao có thể xóa đi tất cả những hoài vọng lớn lao của mình và những lời cầu nguyện dành cho nó. Giờ đây bà chỉ còn mỗi một ước nguyện: làm sao cho con gái bà được hạnh phúc.<br />
<br />
Bà nhìn ra cổng chùa. Bà thấy con gái bà đang nói chuyện điện thoại, chân mày nó nhíu lại vì giận dữ và lo lắng. Trên đỉnh cao cũng chẳng phải tốt lành gì, bà cụ thầm nghĩ. Từ trên đỉnh thì chỉ có một con đường để đi: đi xuống. Bà cụ tỉ mẩn tháo bịch nilông rồi đổ ra trước bệ thờ một bịch bee hoon (mì bột gạo). Con gái bà thường chế nhạo bà chuyện cúng bái các vị Phật bằng sứ. Sao bà có thể khấn vái thành khẩn như thế và chờ đợi những mảnh sứ ấy bay đến giúp đỡ? Nhưng bản thân con gái của bà cũng có những vị thần của nó: những thần tượng của giàu sang, thành đạt và quyền lực mà nó lệ thuộc và thờ cúng mỗi ngày trong cuộc đời. Mỗi ngày là một sự truy tìm các thần tượng, và những thần tượng mà nó tôn thờ lại chẳng là gì cả so với vĩnh hằng. Tất cả những thứ mà con gái bà mong ước sẽ dần dần hút lấy sự sống bên trong nó, bỏ lại cho bà một chiếc vỏ sò vô hồn và rỗng tuếch trước bệ thờ.<br />
<br />
Bà cụ lặng ngắm những que nhang. Hơi nóng bốc lên những xà cột ọp ẹp có nguy cơ sụp đổ bất cứ giây phút nào. Phụ nữ hiện đại ngày nay, bà cụ thở dài nhẫn nhục khi cúi lạy lần cuối cùng về hướng đông để kết thúc buổi cầu nguyện. Phụ nữ hiện đại ngày nay muốn quá nhiều thứ đến mức đánh mất cả linh hồn rồi lại tự hỏi tại sao mình không tìm được nó. Que nhang của bà tan ra thành lớp tro xám mịn.<br />
<br />
Bà gặp lại con gái ở ngoài cổng chùa. Vẻ bồn chồn, thất vọng vẫn nguyên vẹn trên khuôn mặt nó. Một biểu lộ rỗng tuếch, cứ như nó đang đào xới mảnh đất của những thèm muốn để tìm kiếm hạt mầm của hạnh phúc. Hai mẹ con lẳng lặng leo lên chiếc xe mui trần, rồi cô gái đưa xe ra xa lộ, lần này không phóng nhanh như lúc đến.<br />
<br />
- Má à, - Bee Choo mở lời - con không biết nói sao với má đây. Mark và con đã bàn chuyện này rồi, tụi con định bán nhà lớn. Thị trường nhà đất đang có ăn thành thử tụi con muốn kiếm người bán nhà, cỡ 7 triệu (đôla Singapore - ND) là được. Tụi con định kiếm một căn hộ khang trang nào đó. Có một căn ở phố Orchard hạp ý con lắm. Khi nào về đó, tụi con sẽ cho con bé làm nghỉ việc để có chỗ rộng rãi hơn... <br />
<br />
Bà cụ gật gù vẻ am hiểu. Bee Choo khó nhọc nuốt nước miếng.<br />
<br />
- Tụi con sẽ mướn người tới dọn dẹp và ăn uống ở ngoài, thế là ổn. Nhưng con bé làm nghỉ rồi thì không có ai chăm sóc má. Má ở nhà một mình chắc là buồn dữ lắm. Với lại căn hộ cũng chật chội nữa. - Tụi con suy nghĩ chuyện này lâu lắm rồi. Tụi con nghĩ tốt nhất là má đến sống ở chỗ mới. Có một căn nhà gần Hougang, một căn nhà của Giáo hội Công giáo. Nhà này tốt lắm, má à.<br />
<br />
-Bà cụ không hề ngước mặt. <br />
<br />
- Con đã đến đó rồi. Bà quản lý nói bả sẵn sàng nhận má. Nhà này vừa đẹp vừa có vườn tược, lại có cả đống người già để làm bạn với má! Con đâu có nhiều thời gian để gần gũi má, ở đó thế nào má cũng vui hơn. "Ở đó má vui hơn thật mà," cô gái lặp lại như để khẳng định với chính mình.<br />
<br />
Lần này bà cụ không còn bịch nilông đựng thực phẩm nào để mà ghì chặt trên áo nữa rồi. Bà bặm môi siết lại dây an toàn, cứ như nó bảo vệ được bà trước cô con gái đang muốn tống khứ bà đi.<br />
<br />
Bà ngồi ngập vào trong chiếc ghế da, mặc cho đôi vai thõng xuống và các ngón tay in dấu trên lớp bọc ghế trắng muốt.<br />
<br />
- Má? - con gái bà cất tiếng gọi, tìm kiếm bà qua chiếc kính chiếu hậu - Má ổn không vậy má?<br />
<br />
Điều gì phải đến đã đến.<br />
<br />
- Ổn mà - bà cụ nói chắc nịch, giọng bà lớn hơn bà dự định - nếu điều đó làm con hạnh phúc - bà hạ giọng nói thêm. <br />
- Việc này là cho má cơ mà, má! Ở đó má sẽ hạnh phúc hơn. Mai má đến đó nhé! Con đã biểu con bé làm gói ghém đồ đạc cho má rồi <br />
- Elaine phấn khởi nói, chưa gì mà đầu óc đã hướng đến một đề mục mới trong lịch trình của cô. <br />
- Con biết mọi chuyện sẽ ổn thôi mà. <br />
<br />
Elaine toét miệng cười, cô cảm giác như vừa được giải thoát. Có thể việc tống khứ bà mẹ sẽ giúp cô hạnh phúc hơn. Cô đã từng nghĩ đến điều đó. Hình như bà cụ là chướng ngại duy nhất trên con đường truy tìm hạnh phúc của cô. Giờ thì cô thấy sung sướng lắm. Cô đã có mọi thứ mà bất kỳ người phụ nữ hiện đại nào cũng thèm muốn: tiền tài, địa vị, công danh, tình yêu, quyền lực... và bây giờ là tự do, không có bà mẹ và không có những lề thói cổ hủ khiến cô bị luôn khó chịu. Phải, cô đã tự do! Chiếc điện thoại reo lên, khẩn trương. Cô nhấc nó lên và đọc mẩu tin nhắn. "Thị trường chứng khoán tăng 10%!". Tuyệt!<br />
<br />
Với cô, rõ ràng là mọi việc đang bắt đầu đi lên... Và trong khi cô tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời qua ánh sáng chiếc màn ảnh điện thoại, bà cụ ngồi ở băng sau đã trở nên vô hình, và cô đã không thể trông thấy những giọt nước mắt của bà.<br />
<br />
????????????<br />
Nguồn Văn Minh Việt Mỹ<br />
Vule Bt]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Một bài viết đoạt giải thưởng cao nhất trong cuộc thi viết truyện ngắn.Và không ai có thể nghĩ đây là bài viết của một cô bé 15 tuổi ...( thật xúc động và đáng thương cho bà Mẹ trong bài viết) <br />
<br />
CÔ GÁI ĐI TÌM HẠNH PHÚC <br />
Tác giả: Amanda Chong Wei Zhen<br />
Dịch giả: Trang Anh<br />
<br />
<br />
Vài dòng về tác giả: AMANDA CHONG WEI - ZHEN, 15 tuổi. Cô bé người Singapore của Trường nữ sinh Raffles - đã nổi lên thành một hiện tượng trong làng văn chương của đảo quốc này. Cô vừa đoạt giải thưởng cao nhất trong cuộc thi viết truyện ngắn (bằng tiếng Anh) của Khối cộng đồng Anh sau khi vượt qua hơn 5.300 truyện ngắn dự thi từ 52 quốc gia trong khối. Truyện ngắn Cô gái đi tìm hạnh phúc nói về sự mâu thuẫn thế hệ và mâu thuẫn giá trị trong một đất nước Singapore đang chuyển đổi nhanh chóng thành một quốc gia phát triển. Xin được nhắc lại, tác giả truyện ngắn này chỉ mới... 15 tuổi.<br />
—————<br />
<br />
☘️ Bà cụ ngồi ở băng sau chiếc xe mui trần đang băng băng trên xa lộ, ghì chặt bịch nilông trên áo như sợ một cơn gió đến cuỗm mất. Bà không quen với tốc độ cao như thế. Cánh tay run run siết lại chiếc dây an toàn, song bà vẫn lưu ý không để các ngón tay sần sùi chạm vào chiếc ghế da bóng lưỡng. Con gái bà đã dặn bà đừng làm bẩn ghế: "Má à, trên nền màu trắng dấu tay coi lộ liễu lắm đó".<br />
<br />
Con gái của bà, Bee Choo, vừa lái xe vừa tuôn vào chiếc điện thoại di động màu bạc mảnh mai những từ ngữ to tát mà một bà cụ già giỏi lắm cũng chỉ hiểu được lờ mờ: "tài chính", "thanh toán", "tài sản", "đầu tư". Giọng nói của cô đanh, trầm và nghe là lạ. Bee Choo của bà ăn nói cứ như các cô gái nước ngoài trên truyền hình. Nó nói bằng giọng Mỹ cơ đấy. Bà cụ tặc lưỡi, vẻ phật ý.<br />
<br />
"Tôi dứt khoát không lấy. Bán quách nó đi!" - con gái bà giận dữ thốt lên, chân nhấn ga tăng tốc. Những móng tay cắt tỉa hoàn hảo bồn chồn bấu chặt vào tay lái. "Không giao dịch gì hết!" - cô quát lên, tắt máy di động rồi giận dữ quẳng nó ra băng sau. Chiếc điện thoại đập trúng trán bà cụ rồi trượt xuống vạt áo. Bà cụ lặng lẽ nhặt lên, chìa trả cho con gái. <br />
- Con xin lỗi má - cô ta nói, bỏ hẳn giọng Mỹ, chuyển sang giọng Quan Thoại - con có một khách hàng lớn ở Mỹ. Có nhiều chuyện lộn xộn lắm. <br />
Bà cụ gật đầu vẻ am hiểu. Con gái bà làm ăn lớn và rất quan trọng. Bee Choo nhìn mẹ qua kính chiếu hậu, tự hỏi không biết bà cụ đang nghĩ gì. Bộ mặt nhăn nheo của mẹ cô luôn mang cái vẻ khó hiểu nào đó.<br />
<br />
Chuông điện thoại lại reo. Một âm thanh nhân tạo vui nhộn kiểu kỹ thuật số làm vỡ tan sự im lặng nặng trĩu. - Beatrice hả! Đúng rồi, Elaine đây. Elaine. <br />
Bà cụ nhăn mặt. Mình đặt tên nó là Elaine hồi nào đâu? Bà sực nhớ con gái bà có nói rằng một cái tên Anh là rất quan trọng cho việc "hòa mạng", tên Trung Quốc người ta hay quên lắm. <br />
- Ồ, trưa nay tui gặp bồ không được đâu. Tui phải đưa bà cốt đi chùa làm mấy cái thủ tục lễ bái lẩm cẩm của bả.<br />
<br />
Bà cốt. Bà cụ hiểu rõ lắm chứ, ấy là nói về bà. Con gái bà cứ tưởng rằng bà không nói ra thì có nghĩa là bà không hiểu gì. <br />
- Ừ, biết rồi! Đệm xe tui sẽ lấm đầy tàn nhang chứ gì?<br />
Bà cụ dán mắt vào cặp môi cô con gái, tay bà bấu lấy bịch nilông đầy vẻ phòng thủ.<br />
<br />
Chiếc xe êm ả rẽ vào sân chùa. Trông nó có phần lòe loẹt bên sắc thái nhợt nhạt của nóc chùa cổ kính. Bà cụ bước ra khỏi băng sau, thả những bước không vội vã về phía chính điện. Con gái bà cũng bước ra khỏi xe trong bộ y phục doanh nhân và giày cao gót. Cô rảo bước theo mẹ, vừa quệt lại son môi. <br />
- Má, con đợi bên ngoài nhe. Con phải gọi điện thoại, có chuyện quan trọng lắm - cô nói, chẳng buồn che giấu sự ghê tởm mùi khói nhang.<br />
<br />
Bà cụ rón rén bước vào chùa, châm nén nhang. Bà cung kính quì xuống, lẩm nhẩm những lời cầu nguyện hằng ngày mà giờ đây bà đã thuộc làu làu. <br />
- Tạ ơn Trời Phật phù hộ độ trì cho con gái con mấy năm qua. Con cầu xin gì nó cũng đều được toại nguyện. Trẻ như nó mà đã có đủ mọi thứ trên đời. - Nó có một căn nhà lớn với cả bể bơi, còn có cả người giúp việc nữa vì nó hay vụng về lắm, chẳng khâu vá, cơm nước gì được cả. Chuyện tình duyên của nó cũng sáng sủa nữa. Nó đang yêu một ang moh (phương ngữ, chỉ người Kavkaz) giàu có và đẹp trai lắm. - Công ty của nó nay là công ty tài chính hàng đầu. Ngay đến đám đàn ông cũng phải tuân lệnh nó. Nó đang sống một cuộc đời hoàn hảo. Trời Phật đã ban cho nó mọi thứ, chỉ thiếu có mỗi hạnh phúc mà thôi. - Con cầu xin Trời Phật tha thứ cho nó dù nó có hơi mất gốc do mải mê chạy theo công danh. - Điều Người trông thấy không đúng chút nào đâu. Nó rất có hiếu với con. Nó cho con một căn phòng trong ngôi nhà lớn của nó. Nó cũng chu cấp đầy đủ cho con. Nó hơi hỗn với con là vì con làm ảnh hưởng đến hạnh phúc của nó. Phụ nữ trẻ không muốn bị mẹ già quấy rầy. Đó là do lỗi của con mà ra.<br />
<br />
Bà cụ cầu nguyện thành khẩn đến mức nước mắt bà ứa ra. Cuối cùng, bà cúi đầu lạy rồi cắm nén nhang cháy phân nửa vào chiếc lư chứa đầy tàn. Bà cúi lạy thêm một lần nữa.<br />
<br />
Bà cụ đã cầu nguyện cho con gái suốt 32 năm nay rồi. Khi bụng bà tròn lẳn như trái dưa, bà đã đến chùa cầu xin một đứa con trai. Rồi khi ngày sinh đến, đứa bé trượt ra khỏi bụng của bà. Nó khóc ré lên trông thật đáng yêu với những bắp chân bù bụ, đôi má hồng hào, nhưng... đó là một bé gái, không lầm lẫn vào đâu được nữa rồi. Chồng bà véo bà, đấm bà vì bà đã sinh ra một đứa bé vô dụng, không thể làm việc cũng như bảo tồn dòng họ.<br />
<br />
Thế rồi người phụ nữ vẫn cứ trở lại chùa cùng với bé gái mới sinh bọc trong chiếc xà rông đeo trước ngực. Bà cầu nguyện cho con gái bà lớn lên sẽ có đủ mọi thứ mà nó muốn. Chồng bà đã bỏ bà và bà cầu nguyện cho con bà về sau sẽ chẳng bao giờ phải lệ thuộc vào đàn ông. Mỗi ngày bà cầu nguyện cho con bà trở thành một phụ nữ tuyệt vời, một phụ nữ mà chính bà không bao giờ vươn tới được do quá nhu mì và ít học. Một phụ nữ nengkan, tức có khả năng làm tất cả những thứ gì mình dự định. Một phụ nữ áp đặt sự ngưỡng mộ vào tận trái tim của mỗi người đàn ông. Khi con bé mở miệng nói, trân châu sẽ tuôn ra theo, và đàn ông sẽ phải lắng nghe nó. Nó sẽ không giống như mình, bà cụ vừa cầu nguyện vừa đắm đuối ngắm cô con gái đang ngày một lớn lên và tách xa khỏi bà, thường nói bằng một thứ ngôn ngữ mà bà khó khăn lắm mới hiểu nổi.<br />
<br />
Bà ngắm nghía con gái của bà chuyển từ một bé gái ngoan ngoãn thành một cô gái công khai thách thức bà, gọi bà là laotu (cổ hủ). Nó muốn mẹ nó phải "hiện đại", một từ quá mới không có trong tiếng Hoa. Giờ thì con gái bà đã trở nên quá thông minh đối với bà và bà cụ tự hỏi cớ sao bà lại cầu xin như thế. Trời Phật đã luôn dễ dãi trước những lời cầu xin dai dẳng của bà nhưng của cải và công danh chảy vào như nước đã chôn đi cả cội nguồn của cô gái, và giờ đây cô đang đứng đó không khuôn mặt, không bản sắc, chỉ còn dính vào mảnh đất của tổ tiên bằng một sợi chỉ mong manh. <br />
Con gái bà đã quên mất các giá trị của người mẹ. Những điều nó muốn thật quá sức phù du... Những ước muốn của phụ nữ hiện đại. Quyền lực, của cải, các cửa hàng thời trang cao cấp... Thế mà con gái bà vẫn chưa thể tìm thấy được hạnh phúc thực thụ. Bà cụ biết rằng không cần có nhiều thứ như thế người ta vẫn tìm được hạnh phúc. Khi con gái bà từ giã cõi đời, tất cả những thứ mà nó có sẽ chẳng còn là gì nữa. Người ta sẽ nhìn lại những thành tích của nó và nói rằng nó là một phụ nữ tầm cỡ nhưng rồi nó sẽ bị quên lãng khi cơn gió đầu tiên lùa qua... giống như tro tàn còn lại của những chiếc xe mui trần và biệt thự bằng hàng mã.<br />
<br />
Bà cụ mong sao nó sẽ quay đầu lại. Bà mong sao có thể xóa đi tất cả những hoài vọng lớn lao của mình và những lời cầu nguyện dành cho nó. Giờ đây bà chỉ còn mỗi một ước nguyện: làm sao cho con gái bà được hạnh phúc.<br />
<br />
Bà nhìn ra cổng chùa. Bà thấy con gái bà đang nói chuyện điện thoại, chân mày nó nhíu lại vì giận dữ và lo lắng. Trên đỉnh cao cũng chẳng phải tốt lành gì, bà cụ thầm nghĩ. Từ trên đỉnh thì chỉ có một con đường để đi: đi xuống. Bà cụ tỉ mẩn tháo bịch nilông rồi đổ ra trước bệ thờ một bịch bee hoon (mì bột gạo). Con gái bà thường chế nhạo bà chuyện cúng bái các vị Phật bằng sứ. Sao bà có thể khấn vái thành khẩn như thế và chờ đợi những mảnh sứ ấy bay đến giúp đỡ? Nhưng bản thân con gái của bà cũng có những vị thần của nó: những thần tượng của giàu sang, thành đạt và quyền lực mà nó lệ thuộc và thờ cúng mỗi ngày trong cuộc đời. Mỗi ngày là một sự truy tìm các thần tượng, và những thần tượng mà nó tôn thờ lại chẳng là gì cả so với vĩnh hằng. Tất cả những thứ mà con gái bà mong ước sẽ dần dần hút lấy sự sống bên trong nó, bỏ lại cho bà một chiếc vỏ sò vô hồn và rỗng tuếch trước bệ thờ.<br />
<br />
Bà cụ lặng ngắm những que nhang. Hơi nóng bốc lên những xà cột ọp ẹp có nguy cơ sụp đổ bất cứ giây phút nào. Phụ nữ hiện đại ngày nay, bà cụ thở dài nhẫn nhục khi cúi lạy lần cuối cùng về hướng đông để kết thúc buổi cầu nguyện. Phụ nữ hiện đại ngày nay muốn quá nhiều thứ đến mức đánh mất cả linh hồn rồi lại tự hỏi tại sao mình không tìm được nó. Que nhang của bà tan ra thành lớp tro xám mịn.<br />
<br />
Bà gặp lại con gái ở ngoài cổng chùa. Vẻ bồn chồn, thất vọng vẫn nguyên vẹn trên khuôn mặt nó. Một biểu lộ rỗng tuếch, cứ như nó đang đào xới mảnh đất của những thèm muốn để tìm kiếm hạt mầm của hạnh phúc. Hai mẹ con lẳng lặng leo lên chiếc xe mui trần, rồi cô gái đưa xe ra xa lộ, lần này không phóng nhanh như lúc đến.<br />
<br />
- Má à, - Bee Choo mở lời - con không biết nói sao với má đây. Mark và con đã bàn chuyện này rồi, tụi con định bán nhà lớn. Thị trường nhà đất đang có ăn thành thử tụi con muốn kiếm người bán nhà, cỡ 7 triệu (đôla Singapore - ND) là được. Tụi con định kiếm một căn hộ khang trang nào đó. Có một căn ở phố Orchard hạp ý con lắm. Khi nào về đó, tụi con sẽ cho con bé làm nghỉ việc để có chỗ rộng rãi hơn... <br />
<br />
Bà cụ gật gù vẻ am hiểu. Bee Choo khó nhọc nuốt nước miếng.<br />
<br />
- Tụi con sẽ mướn người tới dọn dẹp và ăn uống ở ngoài, thế là ổn. Nhưng con bé làm nghỉ rồi thì không có ai chăm sóc má. Má ở nhà một mình chắc là buồn dữ lắm. Với lại căn hộ cũng chật chội nữa. - Tụi con suy nghĩ chuyện này lâu lắm rồi. Tụi con nghĩ tốt nhất là má đến sống ở chỗ mới. Có một căn nhà gần Hougang, một căn nhà của Giáo hội Công giáo. Nhà này tốt lắm, má à.<br />
<br />
-Bà cụ không hề ngước mặt. <br />
<br />
- Con đã đến đó rồi. Bà quản lý nói bả sẵn sàng nhận má. Nhà này vừa đẹp vừa có vườn tược, lại có cả đống người già để làm bạn với má! Con đâu có nhiều thời gian để gần gũi má, ở đó thế nào má cũng vui hơn. "Ở đó má vui hơn thật mà," cô gái lặp lại như để khẳng định với chính mình.<br />
<br />
Lần này bà cụ không còn bịch nilông đựng thực phẩm nào để mà ghì chặt trên áo nữa rồi. Bà bặm môi siết lại dây an toàn, cứ như nó bảo vệ được bà trước cô con gái đang muốn tống khứ bà đi.<br />
<br />
Bà ngồi ngập vào trong chiếc ghế da, mặc cho đôi vai thõng xuống và các ngón tay in dấu trên lớp bọc ghế trắng muốt.<br />
<br />
- Má? - con gái bà cất tiếng gọi, tìm kiếm bà qua chiếc kính chiếu hậu - Má ổn không vậy má?<br />
<br />
Điều gì phải đến đã đến.<br />
<br />
- Ổn mà - bà cụ nói chắc nịch, giọng bà lớn hơn bà dự định - nếu điều đó làm con hạnh phúc - bà hạ giọng nói thêm. <br />
- Việc này là cho má cơ mà, má! Ở đó má sẽ hạnh phúc hơn. Mai má đến đó nhé! Con đã biểu con bé làm gói ghém đồ đạc cho má rồi <br />
- Elaine phấn khởi nói, chưa gì mà đầu óc đã hướng đến một đề mục mới trong lịch trình của cô. <br />
- Con biết mọi chuyện sẽ ổn thôi mà. <br />
<br />
Elaine toét miệng cười, cô cảm giác như vừa được giải thoát. Có thể việc tống khứ bà mẹ sẽ giúp cô hạnh phúc hơn. Cô đã từng nghĩ đến điều đó. Hình như bà cụ là chướng ngại duy nhất trên con đường truy tìm hạnh phúc của cô. Giờ thì cô thấy sung sướng lắm. Cô đã có mọi thứ mà bất kỳ người phụ nữ hiện đại nào cũng thèm muốn: tiền tài, địa vị, công danh, tình yêu, quyền lực... và bây giờ là tự do, không có bà mẹ và không có những lề thói cổ hủ khiến cô bị luôn khó chịu. Phải, cô đã tự do! Chiếc điện thoại reo lên, khẩn trương. Cô nhấc nó lên và đọc mẩu tin nhắn. "Thị trường chứng khoán tăng 10%!". Tuyệt!<br />
<br />
Với cô, rõ ràng là mọi việc đang bắt đầu đi lên... Và trong khi cô tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời qua ánh sáng chiếc màn ảnh điện thoại, bà cụ ngồi ở băng sau đã trở nên vô hình, và cô đã không thể trông thấy những giọt nước mắt của bà.<br />
<br />
????????????<br />
Nguồn Văn Minh Việt Mỹ<br />
Vule Bt]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[BẠN BIẾT GÌ VỀ CON NGỖNG? ( sưu tầm )]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8085</link>
			<pubDate>Thu, 15 Dec 2022 17:21:33 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8085</guid>
			<description><![CDATA[1. NGỖNG LÀ LOÀI ĂN CHAY, thích nhất ăn cỏ và lúa, hoặc cơm trắng, chỉvậy thôi. Nếu trong thố ăn của ngỗng, bạn bỏ ít tôm cá vào, ngỗng sẽ không bao giờ đụng đến cái thau đó nữa, dù là sau đó không có tôm cá<br />
- Hoặc bạn cố tình chỉ cho ăn tôm cá hay thịt, ngỗng thà nhịn đói cả tháng rồi chết chứ không ăn.<br />
- Hoặc bạn cố tình nhét thịt cá vào miệng, ngỗng sẽ ói ra<br />
<br />
2. NGỖNG CÓ TÁNH LINH RẤT CAO, nên dùng để giữ nhà, ngăn vong này nọ<br />
- chó thấy người bên ngoài cổng nhà là sủa, ngỗng thì khi nào người lạ vào đất/ nhà của bạn, ngỗng mới kêu to, khi nghe tiếng càng dồn dập và mạnh mẽ, chắc chắn có biến.<br />
- mảnh đất vong nhiều, Thầy trừ chưa kịp, ngỗng ở 3 ngày trở lên là hết.<br />
- chó không biết có bão, ngỗng nghe ngóng thời tiết biến chuyển rất tốt.<br />
- trứng ngỗng được con mái ấp, con trống canh, ngoài chủ ra, ai cũng sẽ bị tấn công nếu đe doạ việc ấp trứng. Và trứng nếu đụng tay vào, sẽ bị thối. Nên dùng cái chén múc lên để lại bên trong nếu trứng bị lăn ra ngoài ổ.<br />
- người chủ mới có toàn quyền với ngỗng, người lạ luôn bị ngỗng tấn công, đôi cánh ngỗng quạt mạnh có thể gãy tay.<br />
- ngỗng rất chung tình, nếu một con chết đi, con kia thờ phụng trọn đời.<br />
- Nếu muốn bán ngỗng con, dẫn người vô coi bắt ngay. Chứ để mai bắt là đêm đó ngỗng mẹ mổ cho chết hết đàn con, nhất quyết không cho con về tay người khác.<br />
<br />
3. NGỖNG NHIỀU LỢI ÍCH MÀ NHÀ VƯỜN/ NHÀ RỘNG NÊN CÓ:<br />
- nghe tiếng ngỗng kêu, rắn và chuột lánh xa ít nhất vài trăm mét.<br />
- phân ngỗng bạn cứ rắc quanh vườn, quanh nhà, sẽ đuổi được rắn, kể cả rắn hổ đất, độc nhất, đang bò, gần đến nơi có chút xíu phân ngỗng, sẽ co mình chuyển hướng.<br />
- mở kinh niệm Phật quanh vườn vừa lợi cho người ở trên khu đất và cho ngỗng mình đang nuôi nghe.<br />
*** Tuy nhiên, ngỗng ăn cỏ cây rất nhiều và sẽ xử hết vườn cây cỏ nhà bạn, nên nếu nhà đang có vườn cỏ đẹp, muốn nuôi ngỗng nên quây lưới lại một khoảnh vừa cho ngỗng ở và bơi lội dưới ao, tắm rửa.<br />
- nếu ngỗng rụng cái lông, đem vào rửa sạch phơi khô gối đầu nằm, rất tốt cho một giấc ngủ yên về tâm linh.<br />
Lông ngỗng nướng lên cùng viên than hồng, rồi tán nhuyễn ra, trị viêm tai giữa rất hay, tiệt sạch.<br />
<br />
<br />
<img src="https://vanhoavaphattrien.vn/uploads/images/2021/09/23/ban-biet-gi-ve-con-ngong-1632364843.jpg" border="0" alt="[Image: ban-biet-gi-ve-con-ngong-1632364843.jpg]" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[1. NGỖNG LÀ LOÀI ĂN CHAY, thích nhất ăn cỏ và lúa, hoặc cơm trắng, chỉvậy thôi. Nếu trong thố ăn của ngỗng, bạn bỏ ít tôm cá vào, ngỗng sẽ không bao giờ đụng đến cái thau đó nữa, dù là sau đó không có tôm cá<br />
- Hoặc bạn cố tình chỉ cho ăn tôm cá hay thịt, ngỗng thà nhịn đói cả tháng rồi chết chứ không ăn.<br />
- Hoặc bạn cố tình nhét thịt cá vào miệng, ngỗng sẽ ói ra<br />
<br />
2. NGỖNG CÓ TÁNH LINH RẤT CAO, nên dùng để giữ nhà, ngăn vong này nọ<br />
- chó thấy người bên ngoài cổng nhà là sủa, ngỗng thì khi nào người lạ vào đất/ nhà của bạn, ngỗng mới kêu to, khi nghe tiếng càng dồn dập và mạnh mẽ, chắc chắn có biến.<br />
- mảnh đất vong nhiều, Thầy trừ chưa kịp, ngỗng ở 3 ngày trở lên là hết.<br />
- chó không biết có bão, ngỗng nghe ngóng thời tiết biến chuyển rất tốt.<br />
- trứng ngỗng được con mái ấp, con trống canh, ngoài chủ ra, ai cũng sẽ bị tấn công nếu đe doạ việc ấp trứng. Và trứng nếu đụng tay vào, sẽ bị thối. Nên dùng cái chén múc lên để lại bên trong nếu trứng bị lăn ra ngoài ổ.<br />
- người chủ mới có toàn quyền với ngỗng, người lạ luôn bị ngỗng tấn công, đôi cánh ngỗng quạt mạnh có thể gãy tay.<br />
- ngỗng rất chung tình, nếu một con chết đi, con kia thờ phụng trọn đời.<br />
- Nếu muốn bán ngỗng con, dẫn người vô coi bắt ngay. Chứ để mai bắt là đêm đó ngỗng mẹ mổ cho chết hết đàn con, nhất quyết không cho con về tay người khác.<br />
<br />
3. NGỖNG NHIỀU LỢI ÍCH MÀ NHÀ VƯỜN/ NHÀ RỘNG NÊN CÓ:<br />
- nghe tiếng ngỗng kêu, rắn và chuột lánh xa ít nhất vài trăm mét.<br />
- phân ngỗng bạn cứ rắc quanh vườn, quanh nhà, sẽ đuổi được rắn, kể cả rắn hổ đất, độc nhất, đang bò, gần đến nơi có chút xíu phân ngỗng, sẽ co mình chuyển hướng.<br />
- mở kinh niệm Phật quanh vườn vừa lợi cho người ở trên khu đất và cho ngỗng mình đang nuôi nghe.<br />
*** Tuy nhiên, ngỗng ăn cỏ cây rất nhiều và sẽ xử hết vườn cây cỏ nhà bạn, nên nếu nhà đang có vườn cỏ đẹp, muốn nuôi ngỗng nên quây lưới lại một khoảnh vừa cho ngỗng ở và bơi lội dưới ao, tắm rửa.<br />
- nếu ngỗng rụng cái lông, đem vào rửa sạch phơi khô gối đầu nằm, rất tốt cho một giấc ngủ yên về tâm linh.<br />
Lông ngỗng nướng lên cùng viên than hồng, rồi tán nhuyễn ra, trị viêm tai giữa rất hay, tiệt sạch.<br />
<br />
<br />
<img src="https://vanhoavaphattrien.vn/uploads/images/2021/09/23/ban-biet-gi-ve-con-ngong-1632364843.jpg" border="0" alt="[Image: ban-biet-gi-ve-con-ngong-1632364843.jpg]" />]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Cô Tiên của tôi, người vợ, người tình, người bạn tuyệt vời]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8059</link>
			<pubDate>Tue, 01 Nov 2022 22:39:15 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8059</guid>
			<description><![CDATA[Bửu Nguyên-Truyện có thật<br />
<br />
Le Van Quy sưu tầm<br />
<br />
<br />
Cô Tiên của tôi, người vợ, người bạn, người tinh tuyệt vời<br />
<br />
<br />
Ba tôi qua đời bất ngờ năm 1964, nhỏ em út còn trong bụng Má. Tôi phải nghỉ học, tìm việc làm ngày đêm để phụ giúp Má tôi nuôi sáu đứa em còn nhỏ dại.<br />
<br />
Đầu năm 1965, tôi được mời đến dạy kèm Toán cho cô con gái lớn một gia đình người Việt ở Nam Vang. Mỗi ngày 2 tiếng, từ 7 đến 9 giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Em học trường Providence, còn gọi là trường Bà Phước, lúc đó chỉ dành cho nữ sinh. Em nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng mới ở lại Cinquième, trong khi tôi đã đậu Brevet d’Études du Premier Cycle hai năm trước.<br />
<br />
Có lẽ vì là con gái nhà khá giả nên em hơi… làm biếng học, nhất là toán, géometrie và algèbre. Lúc đầu, tôi hơi nản lòng vì… em nhìn bài vở như thấy ma, tôi thường phải làm bài giùm em, nhưng từ từ em nghe lời tôi khuyên, chịu làm bài, chịu học bài, và được lên lớp mỗi năm.<br />
<br />
Đầu năm 1968, em học Troisième, chuẩn bị thi Brevet. Tôi kèm em từng môn, giúp em làm những bài vở mà đúng ra tôi không cần giúp. Em trả ơn bằng cách mời tôi ở lại ăn cơm tối.<br />
<br />
Tôi cho em mượn những quyển sách mà tôi đã học qua, trong một lần trả sách, em kèm theo tấm giấy chỉ viết một câu “cho moi làm amie intime của toi nha”. Tôi gật đầu vì sợ em giận, em không thèm học nữa. Từ đó, em hẹn tôi đi chơi cuối tuần, tôi cũng gật đầu với điều kiện là em phải xin phép Ba Má đàng hoàng và phải ráng học.<br />
<br />
Tôi biết em thương tôi, tôi cũng thương em. Tôi gọi em là “cô Tiên” vì em có dáng dấp qua cầu gió bay, có bước đi lả lướt nhẹ nhàng như các nàng tiên nữ trong vũ khúc nghê thường, vì em đã mang đến cho tôi những cảm xúc mà người trần gian chưa từng cho tôi trước đó.<br />
<br />
Những ngày mưa, không đi chơi được thì tôi ngồi hát em nghe bên mái hiên nhà:<br />
<br />
Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăng<br />
<br />
Em đến thăm anh vì trời mưa mãi nên không kịp về<br />
<br />
Bên anh, em lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơ<br />
<br />
Sợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa.<br />
<br />
Chuyện xưa kể rằng trên thiên giới ấy ngày vui kết hoa đăng<br />
<br />
Thiên Quốc đang vui một nàng tiên nữ làm rơi ly ngọc ngà<br />
<br />
Đang say nên trời bèn đọa đày nàng tiên xuống trần gian<br />
<br />
Làm người dương thế không biết bao lâu mới được quay về trời.<br />
<br />
Em ơi nàng tiên ấy xuống dương trần một chiều mưa bay nhiều<br />
<br />
Và vì thương trần thế, thương kiếp sống phong sương<br />
<br />
Nên dù rằng một hôm Thiên Quốc trời sai<br />
<br />
Gom mây hồng làm xe đưa tiên về<br />
<br />
Tiên nói dối tiên còn đang giận trời nên tiên chẳng về đâu.<br />
<br />
Nàng tiên giáng trần không đôi cánh trắng giờ đang ngắm mưa bay<br />
<br />
Đang đứng bên anh thầm cầu mưa mãi cho tiên đừng về<br />
<br />
Anh ơi lỡ mà trời gọi về thì tiên chẳng về đâu<br />
<br />
(Bài hát “Huyền Thoại Một Chiều Mưa”)<br />
<br />
Nhưng tôi luôn nhớ mình là con trai nhà nghèo, chỉ có chiếc Mobylette cà tàng làm chân đi kiếm cơm mỗi ngày. Em là con gái nhà khá giả, đi học có xe đưa rước, về nhà không làm động móng tay vì đã có chị bếp, chị bồi, chị vú lo toan mọi việc. Nếu hai đứa thành vợ thành chồng, em cực thân là cái chắc.<br />
<br />
Trong một lần kề vai nhau đi quanh công viên Chùa Tháp, trời bỗng dưng mưa. Tôi bật dù che hai đứa nhưng mưa càng lúc càng nặng hột, em bỗng xoay người lại ôm hôn tôi dưới mưa. Tôi than thầm trong bụng “gặp oan gia truyền kiếp rồi”.<br />
<br />
Năm đó, em thi đậu Brevet và tôi nghỉ dạy vì vừa xin được cái job thư ký kế toán ở hãng L’UCIA, Nam Vang.<br />
<br />
Lúc trước gặp nhau 5 ngày mỗi tuần, có nhiều thì giờ để nói với nhau những gì muốn nói. Giờ phải chờ đến cuối tuần mới được gặp nhau vài tiếng, nhớ ơi là nhớ. Tôi bắt đầu làm thơ “nhớ em”…<br />
<br />
Nhớ lúc xưa kia mới biết nhau<br />
<br />
Rồi thương rồi nhớ suốt đêm thâu<br />
<br />
Ðêm nào cũng vái cho mau sáng<br />
<br />
Nhớ quá trời ơi! Nhớ phát rầu.<br />
<br />
Nhớ những chiều em qua phố vắng<br />
<br />
Dáng hồng xen lẫn bóng hàng cau<br />
<br />
Mân mê vạt áo, em e lệ<br />
<br />
Những lúc anh nhìn, má đỏ au.<br />
<br />
Nhớ lúc mình đan tay đếm bước<br />
<br />
Em run run hỏi: – Sẽ ra sao ?<br />
<br />
Anh cười, anh nói như đinh đóng:<br />
<br />
– Anh sẽ yêu em đến bạc đầu!<br />
<br />
Đưa bài thơ cho em, em bỏ túi nói sẽ về nhà đọc. Tuần sau gặp nhau, em không nhắc gì về bài thơ của tôi mà hỏi tôi nghĩ gì về cuộc sống hai đứa sau này.<br />
<br />
Tôi nói là nhà tôi nghèo, em nói em biết rồi, tôi phải đi làm giúp Má nuôi các em còn nhỏ, em nói em cũng biết rồi, nếu mình cưới nhau thì em sẽ cực thân hơn là sống với Ba Má em…<br />
<br />
Em trả lời làm tôi chưng hửng “hiện nay, cái khổ nhất mà “moi” phải chịu đựng hàng ngày là nhớ “toi”, cái cực nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là làm sao để gặp toi sớm hơn, nên moi không sợ gì cả. Trời sanh voi sanh cỏ”.<br />
<br />
Tôi khuyên em nên kiên nhẫn, nói cho em hiểu lúc này là thời gian đẹp nhất trong cuộc tình hai đứa, cái nhớ cái thương bây giờ sẽ làm mình gắn bó nhau hơn sau này…<br />
<br />
Em nghe lời tôi và chuyện hẹn hò của chúng tôi kéo dài cho tới đầu năm 1970.<br />
<br />
Tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk, tự phong là tổng thống xứ Kampuchea (Cao Miên).<br />
<br />
Một số người Miên quá khích thừa nước đục thả câu, “cáp duồn” (nghĩa là chặt người Việt) lẻ tẻ. Đang đêm, họ đến gõ cửa nhà người Việt ở những vùng thôn quê hẻo lánh. Một số người Việt không may đã bị họ chặt đầu, xác thả trôi sông về tới Tân Châu, Hồng Ngự… Nhiều người Việt có chút của ăn của để ở Cao Miên bán tháo tài sản để về Miền Nam Việt Nam lánh nạn. Ba Má em cũng không ngoại lệ.<br />
<br />
Em gặp tôi bàn chuyện này. Tôi đem việc này hỏi ý kiến ông giám đốc hãng L’UCIA. Ông giám đốc đưa hai đứa tôi về biệt thự do hãng mướn cho ổng ở trên đại lộ Norodom, ngay trung tâm thủ đô Nam Vang. Ổng nói: “nhà tao có 2 người bồi bếp, có 2 con chó berger giữ nhà. Nhà có 5 phòng, tao ở chỉ một phòng. Nếu hai đứa thấy ở nhà mầy không an toàn thì đến đây ở với tao. Tao tin tưởng và cần thằng B. giúp tao giữ gìn sổ sách của hãng nên hai đứa mầy muốn ở phòng nào, muốn ở bao lâu cũng được”.<br />
<br />
Nghe vậy, chúng tôi yên tâm và quyết định ở Nam Vang dù Ba Má em có về Sàigòn.<br />
<br />
Em về xin Ba Má cho hai đứa làm đám cưới. Má em có cảm tình với tôi nên gật đầu. Ba em im lặng vì biết tôi nghèo, sợ con gái cưng của ông sẽ cực khổ khi về làm vợ tôi. Em nói với Ba Má em “nếu Ba Má không tổ chức đám cưới cho hai đứa con, tụi con sẽ tự lo. Con muốn làm vợ anh B. danh chánh ngôn thuận”.<br />
<br />
Và hai đứa tôi tự tổ chức lễ cưới của mình.<br />
<br />
Sáng ngày 24/02/1970, Má tôi và tôi mang trầu cau và phẩm vật đến xin cưới em. Chúng tôi lạy bàn thờ tổ tiên nhà em, xin quý ngài chứng giám cho chúng tôi thành vợ thành chồng. Tôi mướn xe Mercedes để rước “cô Tiên” xuống trần.<br />
<br />
Tối đến là tiệc cưới tại nhà hàng La Lune, đối diện State Olympic, với 200 quan khách, họ hàng và bạn bè nhà trai, nhà gái. Dĩ nhiên là có nhạc sống do mấy tên bạn tôi tự mang đồ nghề đến giúp vui. Đêm đó, hai đứa tôi khiêu vũ và cụng ly với bạn bè gần tới sáng.<br />
<br />
Sau ngày chúng tôi thành hôn thì tình hình chính trị giữa hai nước Kampuchea và Miền Nam Việt Nam biến chuyển dồn dập. Ông bà nhạc tôi và gia đình bay về Sàigòn vài ngày sau đó. Vợ chồng tôi vẫn ở Nam Vang. Tôi vẫn đi làm ở L’UCIA .<br />
<br />
Khi xác nhiều người Việt trôi về tới Hồng Ngự, Tân Châu, ông Nguyễn Cao Kỳ – lúc đó là Phó Tổng Thống VNCH – ra lệnh cho Quân-đoàn 3 tràn qua biên giới, lấy cớ là để “bảo vệ kiều bào VN”. Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận lệnh với lời tuyên bố làm chấn động chính phủ Cao Miên: “Cho tôi 24 tiếng, tôi sẽ chiếm Nam Vang”.<br />
<br />
Ông Lon Nol nghe muốn té đái. Mới làm tổng thống có mấy ngày, nếu để QLVNCH chiếm Nam Vang thì mất mặt bầu cua. Ông gọi điện năn nỉ chính phủ VNCH đừng chiếm Nam vang nên Quân-đoàn 3 dừng lại ở Neak Luong (người Việt mình gọi là Hố Lương), một bến phà chỉ cách Nam vang 60 cây số.<br />
<br />
Nghe tin QLVNCH tràn qua biên giới, cả trăm ngàn kiều bào VN ở Cao Miên, trong đó có vợ chồng tôi, bỏ tất cả tài sản, dắt díu nhau vào các trại tị nạn. Các sân trường trung học, chùa, nhà thờ bỗng trở thành những trại tị nạn khổng lồ. Vợ chồng tôi vào trường Seminaire, nơi tôi đã học năm cuối chương trình Tú tài Pháp hai năm trước.<br />
<br />
Trong trại Seminaire, người ta chia ra nhiều nhóm, mỗi nhóm 10 gia đình, trước hết là để lãnh nước uống, sau là thức ăn, lúc đó chỉ có khô cá lóc do Red Cross cung cấp. Tôi làm trưởng nhóm 31.<br />
<br />
Đầu tháng 5/1970, ông Nguyễn Cao Kỳ bay lên Nam Vang, nói là thăm xã giao tướng Lon Nol nhưng thật sự là đi thanh tra các trại tị nạn. Tối đêm trước, tôi và các trưởng nhóm được lệnh phải thu tất cả những những gì có thể coi như là vũ khí gồm dao, gậy,… và cùng nhiều người thức gần sáng đêm để dựng cái sân khấu dã chiến.<br />
<br />
Khi ông Kỳ vào trại Seminaire, ông đến từng lều, bắt tay và hỏi thăm từng người. Điều làm mọi người chú ý là 2 anh đại-úy cận vệ. Họ cao hơn ông Kỳ 1 cái đầu, mặc đồ bay, mang súng ngắn dưới nách, nhưng không cản trở khi kiều bào đến bắt tay, thậm chí ôm hôn ông Kỳ.<br />
<br />
Ông Kỳ lên sấn khấu, nói vài lời thăm hỏi xã giao rồi hứa: “Tôi sẽ đưa tất cả đồng bào về quê hương!”<br />
<br />
Ông nhận được những tràng pháo tay như sấm động của mấy ngàn người trong trại Seminaire. Nhiều bà lão bò ra khoảng trống trước sân khấu lạy ông Kỳ như tế sao.<br />
<br />
Vài ngày sau, chúng tôi được phát thịt heo lần đầu, dù không ai biết ai cho nhưng mọi người nghĩ là từ chính phủ VNCH. Tuần sau, một đoàn “tàu há mồm” của Hải quân VNCH cặp bến sông Mekong.<br />
<br />
Danh sách từng nhóm được gọi để rời trại xuống tàu về nước. Vợ chồng tôi thuộc danh sách thứ 31 nên gần cuối tháng 5/1970 mới được rời trại. Sau 1 ngày lênh đênh trên sông Tiền (hay sông Hậu?) thì về tới trại Đồng Tâm, Mỹ Tho, lúc đó là hậu cứ của Sư-đoàn 7 BB.<br />
<br />
Vợ chồng tôi chỉ ở trại Đồng Tâm 5 ngày. Làm giấy tờ nhập cảnh xong thì Ba em lái xe xuống rước về Sàigòn.<br />
<br />
Cuộc sống chúng tôi từ ngày về Sàigòn không còn… tà tà như lúc ở Nam Vang. Cũng như tất cả Việt kiều hồi hương lúc đó, tôi được hoãn dịch 18 tháng. Thời gian không nhiều nên tôi làm ngày làm đêm. Em cũng đi làm. Cuối tuần hai đứa đưa nhau đi ăn mì xào dòn, hay ăn nghiêu luộc.<br />
<br />
Mỗi tối đi đàn về, tôi chạy thẳng vô Chợ Lớn mua cho em cái bánh bao Ông Cả Cần của Bà Năm Sa-Đéc. Lúc này em không còn thơ thẩn, mà ngược lại… em ăn rất bạo. Dù không nói ra, tôi biết em đang chuẩn bị cái bụng cho đứa con đầu lòng của chúng tôi, dù không biết lúc nào nó sẽ tượng hình.<br />
<br />
Nhiều người trong gia tộc hai bên thường trề môi nói “thằng B. con nhà lính tính nhà quan, mới ở Nam Vang về tay trắng mà vợ nó muốn gì được nấy”….<br />
<br />
Mấy người này không biết là lúc còn độc thân, tôi đã đọc một câu định nghĩa “người phụ nữ lý tưởng” của một người đàn ông như sau: “Người phụ nữ lý tưởng của một người đàn ông là người bạn, người tình và là người vợ của người đàn ông đó”.<br />
<br />
Hồi đọc câu đó, tôi chưa gặp cô Tiên nên tôi đã tự hỏi ngược lại là “tôi có thể vừa là người bạn, vừa là người tình, và là chồng của vợ tôi không”. Ông nào muốn biết cái vụ này nó khó cỡ nào cứ thử cua một cô bạn gái rồi cưới cổ về làm vợ thì sẽ hiểu câu… “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”.<br />
<br />
<br />
Nhưng khi gặp rồi thương yêu cô Tiên, cái định nghĩa xưa tự nó cho tôi lời giải đáp.<br />
<br />
Lúc mới thương nhau, tôi thường kể em nghe chuyện bồ bịch của tôi lúc trước. Em chẳng những không ghen hờn, mà còn góp ý đôi khi rất tiếu lâm, rồi hai đứa cười hí hí. Lúc hai đứa đi chơi, gặp cô nào có “ngực tấn công, mông phòng thủ” là tôi hay quay lại nhìn, em im lặng nắm tay tôi, đợi cô đó đi khỏi tầm mắt mới hỏi “bộ toi hổng thấy cổ đi hai hàng hả?”. Khi vào tiệm bán sách, tôi có cái tật (hổng biết xấu hay tốt) là đứng hơi lâu trước mấy cái đặc san người lớn như PlayBoy. Em im lặng đứng bên tôi, đến khi rời tiệm sách em mới phê bình… “nhỏ này vú đẹp, cô kia mông teo…”. Chỉ khi đến kệ bày mấy cuốn Salut les Copains, em mới thò tay lựa cuốn mới nhất và tự ra quầy trả tiền.<br />
<br />
Em chưa bao giờ bắt tôi trả tiền những gì em mua cho riêng em. Em chưa bao giờ lớn tiếng hay dùng lời lẽ không lịch sự với bất cứ ai, dù đôi khi tôi hay ai đó vô tình hoặc cố ý làm em giận.<br />
<br />
Ba em nói với em “Ba thấy nó đi nhảy đầm, tay trái một con, tay mặt một con”. Em trả lời “những gì ảnh làm lúc còn độc thân là quyền của ảnh, con không cần biết (thật ra tôi đã kể em nghe hết rồi). Chỉ cần biết hiện giờ hai đứa con thương nhau thật lòng là được rồi”.<br />
<br />
Em có cách hôn, chỉ phớt nhẹ, làm tôi hồn phi phách tán. Khi thấy tôi buồn, em cầm tay tôi, xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, khiến tôi quên hết mọi phiền não. Sau này thành vợ thành chồng, em vẫn là người tình tuyệt vời. Em biết cách làm tôi quên những nghiệt ngã mà tôi đã trải qua trong ngày hôm đó.<br />
<br />
Em biết tiết kiệm, vén khéo với số tiền mà chúng tôi kiếm được. Em không se sua, dù luôn ăn mặc thanh lịch. Mỗi lần hai đứa ra đường là tôi phải ngó trước nhìn sau, coi có tên nào nhìn lén em không. Khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời năm 1972, em tự nguyện bỏ bớt chuyện mua sắm cho riêng mình, để có đủ tiền cho con chúng tôi bú sữa Guigoz 3 năm liên tục.<br />
<br />
<br />
Cô Tiên đã là một người bạn, một người tình và là người vợ tuyệt vời của tôi.<br />
<br />
Được một người vợ như cô Tiên, em muốn gì được nấy không có gì quá đáng.<br />
<br />
Bán nhà cho em cũng được, huống chi là ba cái lẻ tẻ.<br />
<br />
Tháng 4/1972, tôi hết hạn hoãn dịch, phải đi lính cho tới ngày tan hàng.<br />
<br />
Sau 75, có ngày hai đứa phải ăn sáng bằng… cơm nguội, nhưng em luôn dành 1 hoặc 2 đồng cho con chúng tôi có gói xôi nóng hay tô cháo huyết.<br />
<br />
Cực nhất là lúc chúng tôi về quê tôi sống từ năm 1976 đến năm 1979. Má tôi cho hai công ruộng và nửa công vườn, đủ cho gia đình chúng tôi sinh sống, không cần phải đi làm mướn, làm thuê. Nhưng không may là hai năm 77-78, lũ lụt tràn vào ngập ruộng trước khi lúa chín. Nông dân vùng Tân châu đói thể thảm. May mà tôi cất nhà sàn, cao khoảng 1.5m, nên nước ngập lé đé sàn nhà.<br />
<br />
<br />
Nhiều nông gia ở nhà đất, phải kê tủ giường lên cao, có người kê giường tới gần đụng nóc nhà.<br />
<br />
Mỗi ngày, cô Tiên ngồi trên sàn nước, miệt mài câu từng con cá chốt, cá sặc, cá lòng tong. Tôi không dám nhìn lâu. Đến bữa ăn chỉ có món cá kho thập cẩm vậy mà thằng con khen “má kho cá ăn ngon”. Tôi mắc nghẹn từng hồi. Rồi cũng qua.<br />
<br />
Ở quê, em không cho con đi học, nói mấy ổng dốt mà dạy cái gì! Vợ chồng tôi thay nhau dạy con nói và viết tiếng Việt, tiếng Pháp. Bài học tiếng Việt đầu tiên là bốn câu thơ của ngài Lý Thường Kiệt :<br />
<br />
Nam quốc sơn hà Nam đế cư<br />
<br />
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư<br />
<br />
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm<br />
<br />
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.<br />
<br />
Tiếng Pháp thì chúng tôi dạy con nói và viết những câu chào hỏi thông thường, không ngờ khi qua Úc nó học tiếng Anh nhanh hơn những bạn tị nạn khác nhờ tiếng Pháp và tiếng Anh có nhiều chữ giống nhau.<br />
<br />
Qua năm 79, tôi trúng mùa. Bán mấy chục giạ lúa, thêm chút tiền dành dụm, mua được cái ghe nhỏ, tính chuyện lớn. Khoang ghe chỉ vừa đủ cho hai người lớn và một đứa nhỏ chen vai nhau ngủ. Tôi không biết chèo, tập cả tháng sau mới chèo được hai chèo. Em không biết lội nhưng nhất quyết đòi đi đến những nơi có thể cho chúng tôi thấy được tương lai. Em nói “mình đã sống mấy năm ‘có miệng không nói lại câm, hai hàng nước mắt chan dầm như mưa’. Đủ rồi, phải đi tìm tương lai cho mình và cho con”.<br />
<br />
<br />
Vậy là đi. Chèo từ Tân châu tới Long xuyên mất hai ngày. Nghỉ xả hơi một ngày rồi chèo tiếp tới Ô Môn, Cần Thơ, Ngã 7, Sóc Trăng, Hộ Phòng, Gành Hào, và sau cùng là ngã 3 cây Tàn. Ở ngã 3 cây Tàn hơn một tháng vì có người mướn tôi đào ao nuôi cá. Đào ao một tháng được hai giạ gạo và một mớ tiền. Chúng tôi trở ra Gành hào vì thấy nơi này là nơi lý tưởng để ra đi. Tôi giấu dưới khoang ghe cái máy đuôi tôm, thường ngày không dám sử dụng, sợ người ta dòm ngó, định khi nào đi mới xài.<br />
<br />
Ở Gành Hào đêm trước, thì đêm sau bị bão.<br />
<br />
Mưa như trút nước, sấm chớp đầy trời. Chiếc ghe tôi lắc lư như người say rượu, nửa đêm đứt dây buộc sào trôi ra giữa sông. May là lúc đó nước lớn, nước từ ngoài biển đổ vô sông, nếu ngược lại thì có thể bão đã đưa chúng tôi qua Thái Lan hay hổng chừng… vô bụng cá. Tôi cột sợi dây quanh bụng, cố gắng lội vô bờ.<br />
<br />
Hình như… lúc không còn cái gì để sợ nữa thì mình mạnh hơn bình thường nên tôi đã kéo chiếc ghe tới dưới dạ cầu chợ Gành hào. Buộc dây ghe lại đàng hoàng là tôi ngã lăn ra thở dốc, lạnh run cầm cập. Em lau mình cho tôi và đưa tôi cái bánh bía, hổng biết em mua lúc nào, đúng là cô Tiên. Ăn cái bánh bía đêm đó, hương vị thơm ngon còn phảng phất tới bây giờ.<br />
<br />
<br />
Bye bye Gành hào, tôi gắn máy đuôi tôm chạy về Long Xuyên. Chúng tôi ở Long Xuyên gần ba năm. Tôi làm bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện, để có tiền nuôi vợ con. Có lúc đạp xe lôi, có lúc vác lúa gạo ở các nhà máy xay lúa, có lúc làm tạp nhạp.<br />
<br />
<br />
Đến tháng 2/1982, em tìm được đường dây ra nước ngoài vừa với khả năng của vợ chồng tôi lúc đó. Cái may là chúng tôi chỉ đi một lần là tới Mã Lai. Ở Bidong một tháng rưỡi là được phái đoàn Úc nhận. Qua trại chuyển tiếp Sungei Besi2, ngoại ô Kuala Lumpur để khám bệnh, bổ túc hồ sơ. Ba tháng rưỡi sau là chúng tôi có list đi Úc.<br />
<br />
Vài ngày sau khi đặt chân lên đất Úc, lúc đó chúng tôi chỉ biết tiếng Pháp chưa biết tiếng Anh. Em nói với tôi “moi không thích nhờ thông dịch, nhà mình phải có một người giỏi tiếng Anh, toi phải đi học. Moi sẽ đi làm nuôi toi và con”! Nghe ghê chưa?<br />
<br />
Mà em cũng không biết tiếng Anh thì đi làm cái gì? Em quên mình từng là một tiểu thơ được cơm bưng nước rót, em quên mình từng đi học có xe đưa rước, em quên mình là… cô tiên của tôi. nên ai mướn gì làm nấy. Quét dọn nhà cửa cho người Úc, chăm sóc con em của đồng hương, làm chả giò bán sĩ (không biết em học ở đâu mà làm chả giò và đổ bánh xèo ngon nhất Darwin).<br />
<br />
<br />
Tôi cũng đi làm ban ngày, đi học ban đêm. Bảy năm ròng rã, tôi lấy được 2 cái Certificates về kế toán và quản trị địa ốc và xin được cái job “Security Administrator” tại trường đại học Charles Darwin University ở Darwin đầu năm 1985. Tôi làm việc tại CDU liên tục hơn 27 năm, đến khi nghỉ hưu cuối năm 2012.<br />
<br />
Em không đi học tiếng Anh một ngày nào nhưng sau này… lại làm thông dịch cho bạn bè, nhiều nhất là mấy cô lấy chồng Úc, mới qua Úc chân ướt chân ráo, tìm đến em nhờ giúp đỡ. Em chở họ đi làm hồ sơ nhập cư, điền đơn xin tiền an sinh xã hội… Bà xã tôi thương đồng hương nên ai nhờ thì giúp, cứ ăn cơm nhà vác ngà voi, không đòi hỏi ai phải trả đồng bạc nào dù biết làm thông dịch cũng được trả tiền. Mấy cô vợ Úc thương em lắm, cuối tuần là ghé nhà tôi xào xào nấu nấu … thật vui.<br />
<br />
Hỏi em mới biết, em học tiếng Anh bằng cách theo dõi các chương trình Play School trên TV. Chương trình này dạy con nít Úc nói/viết tiếng Anh để chuẩn bị vô mẫu giáo. Em đọc báo tôi mang về mỗi ngày. Không hiểu chữ nào, đoạn nào thì em hỏi tôi hay tra tự điển.<br />
<br />
<br />
Tiếu lâm nhất là khi bà hàng xóm nhờ em làm thông dịch. Bà này gốc Ý (Italy), có chồng gốc Tây Ban Nha (Spain). Bà ta đến Úc theo diện vợ chồng năm 1978 và không đi học ngày nào. Khi rảnh rỗi bà ta qua nói chuyện với bà xã tôi. Bà ta nói “broken english” với giọng Ý nên tôi và mọi người không ai hiểu cả. Vậy mà bà xã tôi hiểu nên mỗi lần bà hàng xóm cần đi bác sĩ, hay bất cứ cơ quan công quyền nào ở Darwin là qua năn nỉ nhà tôi theo làm thông dịch.<br />
<br />
<br />
Một năm sau ngày đến Úc, tôi được bầu làm tổng thư ký Hội Người Việt Tự Do tại Darwin, sau đổi tên thành CĐNVTD Bắc Úc cho tới bây giờ. Tôi dính với các sinh hoạt của CĐ mình cho tới năm 2017 mới rút chân ra được. Suốt thời gian này, bất cứ tôi làm cái gì đều có sự giúp đỡ, yểm trợ khi công khai khi âm thầm của cô Tiên.<br />
<br />
Đứa con thứ hai của chúng tôi chào đời năm 1984 tại Darwin. Nhìn em cho con bú, tắm rửa cho con, nâng niu thằng nhỏ như vàng như ngọc, tôi nhớ lại những ngày hai đứa mới thương nhau, mỗi lần bên nhau là bàn chuyện mai này… tôi viết bài thơ tặng em.<br />
<br />
<br />
Một chiều lãng đãng ánh tà dương<br />
<br />
Em kể anh nghe chuyện mộng thường<br />
<br />
Đôi mắt em nhìn xao xuyến quá<br />
<br />
Như sao lấp lánh một trời thương.<br />
<br />
Từ đó đời mình hết lẻ loi<br />
<br />
Đan tay qua phố bước chung đôi<br />
<br />
Em cười rạng rỡ như tiên nữ<br />
<br />
Tiên nữ của anh – cũng được rồi.<br />
<br />
Từ đó đời mình ươm ước mơ<br />
<br />
Từng đêm anh cắn bút làm thơ<br />
<br />
Mỗi dòng ôm ấp ngàn thương nhớ<br />
<br />
Thương nhớ lớn theo nổi đợi chờ.<br />
<br />
Từ đó mình bàn chuyện lứa đôi<br />
<br />
Mai này, mình có hai con thôi<br />
<br />
Trưởng nam, phần nó lo hương hỏa<br />
<br />
Em nó, cô Ba – có rượu mời.<br />
<br />
Từ đó mình bàn chuyện cưới nhau<br />
<br />
Anh giành chọn áo cưới cô dâu<br />
<br />
Màu vàng, hoàng hậu lòng anh đó<br />
<br />
Em nói : – Màu hồng, áo cô dâu!<br />
<br />
Từ lúc về làm vợ của anh<br />
<br />
Âm thầm mình kết mộng ngày xanh<br />
<br />
Trưởng nam bật khóc, cưng như ngọc<br />
<br />
Đứa kế trai luôn, quý tựa vàng.<br />
<br />
Nhiều đêm nằm gác tay lên trán<br />
<br />
Anh cám ơn Trời, cám ơn em<br />
<br />
Bảy nổi ba chìm mình chẳng ngán<br />
<br />
Vì em có anh, anh có em.<br />
<br />
<br />
Từ năm 2005 đến năm 2015, chúng tôi tổ chức những bữa ăn cứu trợ Thương Phế Binh còn sống khổ sở nơi quê mình bằng cách… tổ chức BBQ tại nhà tôi. Thức ăn do bà xã tôi và vài người bạn thân cùng chung sức nấu nướng, tôi bỏ tiền túi mua bia và nước giải khát. Ăn uống free. Tôi để 1 cái “Thùng Cứu trợ” trên bàn, ai cho bao nhiêu, tôi gởi về VN giúp anh em thương phế binh bấy nhiêu, theo tiêu chuẩn mỗi người 100 Úc kim.<br />
<br />
<br />
Vì số người Việt ở Darwin rất khiêm nhường, chỉ có vài trăm người, nên lúc đầu chỉ được vài ngàn. Từ từ, bà con tin tưởng nên khi có dịp đi ngang nhà tôi là họ bỏ tiền vô thùng thơ, không đợi đến Bữa ăn Cứu trợ.<br />
<br />
<br />
Gõ máy tới đây, bỗng nhiên làm biếng… không muốn gõ máy nữa, vì đang nhớ cô Tiên, nhớ quá xá nhớ.<br />
<br />
<br />
Cô Tiên của tôi đã về trời sau khi đã cùng sống chung với cha con tôi 43 năm, 3 tháng, 27 ngày hạnh phúc. Em quy tiên sau một cơn bạo bệnh. Từ một người mạnh khỏe bình thường, đúng 5 tuần sau thành người thiên cổ.<br />
<br />
<br />
Trong những ngày cuối của cuộc sống nơi dương thế, khi thấy hai con đứng nhìn em, nước mắt lưng tròng, em cầm tay con lắc lắc, mỉm cười nói: “Chúa cũng chết, Phật cũng chết, thì Má cũng chết. Má đã trả xong món nợ ân tình với Ba con và các con thì Má đi. Con trai khóc… xấu lắm”. Con tôi quẹt nước mắt… miệng cười méo xẹo.<br />
<br />
Trong Hospice Hospital, nơi dành cho những bệnh nhân… “terminally ill”, mỗi ngày có y tá đến đánh răng và lau mình cho em. Có một lần em cám ơn họ “Thanks so much for keeping my body clean. I know it’s shutting down”. Cô y tá người Úc trợn mắt nhìn em, rưng rưng nước mắt. Sau này, cô nói với tôi “Tao chưa thấy ai sắp chết mà còn lịch sự và tỉnh táo như vợ mầy”.<br />
<br />
<br />
Khi biết mình sắp trả xong cái nghiệp ở dương gian, em nắm tay tôi dặn dò phải tổ chức tang lễ em như thế nào. Thỉnh vị tăng ni nào chủ trì tang lễ, xong phải hỏa thiêu và chỉ giữ tro cốt 100 ngày. Sau đó mang tro cốt em rải trên sông Parramatta, đoạn gần Opéra House ở Sydney, là nơi em thích đi dạo mỗi lần đi thăm con. Em nói nhỏ nhẹ như đang lo tang lễ của ai khác. Tôi chỉ biết im lặng gật đầu, ráng kềm cho nước mắt đừng chảy ra. Tôi đã làm đúng theo lời em dặn.<br />
<br />
<br />
Từ ngày cô Tiên về trời, cha con tôi đứt ruột đứt gan, tan nát trong lòng. Tôi đã sống những ngày như người chết chưa chôn.<br />
<br />
<br />
(Câu chuyện kể có thật của Buu Nguyen)<br />
<br />
LeVanQuy sưu tầm]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Bửu Nguyên-Truyện có thật<br />
<br />
Le Van Quy sưu tầm<br />
<br />
<br />
Cô Tiên của tôi, người vợ, người bạn, người tinh tuyệt vời<br />
<br />
<br />
Ba tôi qua đời bất ngờ năm 1964, nhỏ em út còn trong bụng Má. Tôi phải nghỉ học, tìm việc làm ngày đêm để phụ giúp Má tôi nuôi sáu đứa em còn nhỏ dại.<br />
<br />
Đầu năm 1965, tôi được mời đến dạy kèm Toán cho cô con gái lớn một gia đình người Việt ở Nam Vang. Mỗi ngày 2 tiếng, từ 7 đến 9 giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Em học trường Providence, còn gọi là trường Bà Phước, lúc đó chỉ dành cho nữ sinh. Em nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng mới ở lại Cinquième, trong khi tôi đã đậu Brevet d’Études du Premier Cycle hai năm trước.<br />
<br />
Có lẽ vì là con gái nhà khá giả nên em hơi… làm biếng học, nhất là toán, géometrie và algèbre. Lúc đầu, tôi hơi nản lòng vì… em nhìn bài vở như thấy ma, tôi thường phải làm bài giùm em, nhưng từ từ em nghe lời tôi khuyên, chịu làm bài, chịu học bài, và được lên lớp mỗi năm.<br />
<br />
Đầu năm 1968, em học Troisième, chuẩn bị thi Brevet. Tôi kèm em từng môn, giúp em làm những bài vở mà đúng ra tôi không cần giúp. Em trả ơn bằng cách mời tôi ở lại ăn cơm tối.<br />
<br />
Tôi cho em mượn những quyển sách mà tôi đã học qua, trong một lần trả sách, em kèm theo tấm giấy chỉ viết một câu “cho moi làm amie intime của toi nha”. Tôi gật đầu vì sợ em giận, em không thèm học nữa. Từ đó, em hẹn tôi đi chơi cuối tuần, tôi cũng gật đầu với điều kiện là em phải xin phép Ba Má đàng hoàng và phải ráng học.<br />
<br />
Tôi biết em thương tôi, tôi cũng thương em. Tôi gọi em là “cô Tiên” vì em có dáng dấp qua cầu gió bay, có bước đi lả lướt nhẹ nhàng như các nàng tiên nữ trong vũ khúc nghê thường, vì em đã mang đến cho tôi những cảm xúc mà người trần gian chưa từng cho tôi trước đó.<br />
<br />
Những ngày mưa, không đi chơi được thì tôi ngồi hát em nghe bên mái hiên nhà:<br />
<br />
Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăng<br />
<br />
Em đến thăm anh vì trời mưa mãi nên không kịp về<br />
<br />
Bên anh, em lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơ<br />
<br />
Sợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa.<br />
<br />
Chuyện xưa kể rằng trên thiên giới ấy ngày vui kết hoa đăng<br />
<br />
Thiên Quốc đang vui một nàng tiên nữ làm rơi ly ngọc ngà<br />
<br />
Đang say nên trời bèn đọa đày nàng tiên xuống trần gian<br />
<br />
Làm người dương thế không biết bao lâu mới được quay về trời.<br />
<br />
Em ơi nàng tiên ấy xuống dương trần một chiều mưa bay nhiều<br />
<br />
Và vì thương trần thế, thương kiếp sống phong sương<br />
<br />
Nên dù rằng một hôm Thiên Quốc trời sai<br />
<br />
Gom mây hồng làm xe đưa tiên về<br />
<br />
Tiên nói dối tiên còn đang giận trời nên tiên chẳng về đâu.<br />
<br />
Nàng tiên giáng trần không đôi cánh trắng giờ đang ngắm mưa bay<br />
<br />
Đang đứng bên anh thầm cầu mưa mãi cho tiên đừng về<br />
<br />
Anh ơi lỡ mà trời gọi về thì tiên chẳng về đâu<br />
<br />
(Bài hát “Huyền Thoại Một Chiều Mưa”)<br />
<br />
Nhưng tôi luôn nhớ mình là con trai nhà nghèo, chỉ có chiếc Mobylette cà tàng làm chân đi kiếm cơm mỗi ngày. Em là con gái nhà khá giả, đi học có xe đưa rước, về nhà không làm động móng tay vì đã có chị bếp, chị bồi, chị vú lo toan mọi việc. Nếu hai đứa thành vợ thành chồng, em cực thân là cái chắc.<br />
<br />
Trong một lần kề vai nhau đi quanh công viên Chùa Tháp, trời bỗng dưng mưa. Tôi bật dù che hai đứa nhưng mưa càng lúc càng nặng hột, em bỗng xoay người lại ôm hôn tôi dưới mưa. Tôi than thầm trong bụng “gặp oan gia truyền kiếp rồi”.<br />
<br />
Năm đó, em thi đậu Brevet và tôi nghỉ dạy vì vừa xin được cái job thư ký kế toán ở hãng L’UCIA, Nam Vang.<br />
<br />
Lúc trước gặp nhau 5 ngày mỗi tuần, có nhiều thì giờ để nói với nhau những gì muốn nói. Giờ phải chờ đến cuối tuần mới được gặp nhau vài tiếng, nhớ ơi là nhớ. Tôi bắt đầu làm thơ “nhớ em”…<br />
<br />
Nhớ lúc xưa kia mới biết nhau<br />
<br />
Rồi thương rồi nhớ suốt đêm thâu<br />
<br />
Ðêm nào cũng vái cho mau sáng<br />
<br />
Nhớ quá trời ơi! Nhớ phát rầu.<br />
<br />
Nhớ những chiều em qua phố vắng<br />
<br />
Dáng hồng xen lẫn bóng hàng cau<br />
<br />
Mân mê vạt áo, em e lệ<br />
<br />
Những lúc anh nhìn, má đỏ au.<br />
<br />
Nhớ lúc mình đan tay đếm bước<br />
<br />
Em run run hỏi: – Sẽ ra sao ?<br />
<br />
Anh cười, anh nói như đinh đóng:<br />
<br />
– Anh sẽ yêu em đến bạc đầu!<br />
<br />
Đưa bài thơ cho em, em bỏ túi nói sẽ về nhà đọc. Tuần sau gặp nhau, em không nhắc gì về bài thơ của tôi mà hỏi tôi nghĩ gì về cuộc sống hai đứa sau này.<br />
<br />
Tôi nói là nhà tôi nghèo, em nói em biết rồi, tôi phải đi làm giúp Má nuôi các em còn nhỏ, em nói em cũng biết rồi, nếu mình cưới nhau thì em sẽ cực thân hơn là sống với Ba Má em…<br />
<br />
Em trả lời làm tôi chưng hửng “hiện nay, cái khổ nhất mà “moi” phải chịu đựng hàng ngày là nhớ “toi”, cái cực nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là làm sao để gặp toi sớm hơn, nên moi không sợ gì cả. Trời sanh voi sanh cỏ”.<br />
<br />
Tôi khuyên em nên kiên nhẫn, nói cho em hiểu lúc này là thời gian đẹp nhất trong cuộc tình hai đứa, cái nhớ cái thương bây giờ sẽ làm mình gắn bó nhau hơn sau này…<br />
<br />
Em nghe lời tôi và chuyện hẹn hò của chúng tôi kéo dài cho tới đầu năm 1970.<br />
<br />
Tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk, tự phong là tổng thống xứ Kampuchea (Cao Miên).<br />
<br />
Một số người Miên quá khích thừa nước đục thả câu, “cáp duồn” (nghĩa là chặt người Việt) lẻ tẻ. Đang đêm, họ đến gõ cửa nhà người Việt ở những vùng thôn quê hẻo lánh. Một số người Việt không may đã bị họ chặt đầu, xác thả trôi sông về tới Tân Châu, Hồng Ngự… Nhiều người Việt có chút của ăn của để ở Cao Miên bán tháo tài sản để về Miền Nam Việt Nam lánh nạn. Ba Má em cũng không ngoại lệ.<br />
<br />
Em gặp tôi bàn chuyện này. Tôi đem việc này hỏi ý kiến ông giám đốc hãng L’UCIA. Ông giám đốc đưa hai đứa tôi về biệt thự do hãng mướn cho ổng ở trên đại lộ Norodom, ngay trung tâm thủ đô Nam Vang. Ổng nói: “nhà tao có 2 người bồi bếp, có 2 con chó berger giữ nhà. Nhà có 5 phòng, tao ở chỉ một phòng. Nếu hai đứa thấy ở nhà mầy không an toàn thì đến đây ở với tao. Tao tin tưởng và cần thằng B. giúp tao giữ gìn sổ sách của hãng nên hai đứa mầy muốn ở phòng nào, muốn ở bao lâu cũng được”.<br />
<br />
Nghe vậy, chúng tôi yên tâm và quyết định ở Nam Vang dù Ba Má em có về Sàigòn.<br />
<br />
Em về xin Ba Má cho hai đứa làm đám cưới. Má em có cảm tình với tôi nên gật đầu. Ba em im lặng vì biết tôi nghèo, sợ con gái cưng của ông sẽ cực khổ khi về làm vợ tôi. Em nói với Ba Má em “nếu Ba Má không tổ chức đám cưới cho hai đứa con, tụi con sẽ tự lo. Con muốn làm vợ anh B. danh chánh ngôn thuận”.<br />
<br />
Và hai đứa tôi tự tổ chức lễ cưới của mình.<br />
<br />
Sáng ngày 24/02/1970, Má tôi và tôi mang trầu cau và phẩm vật đến xin cưới em. Chúng tôi lạy bàn thờ tổ tiên nhà em, xin quý ngài chứng giám cho chúng tôi thành vợ thành chồng. Tôi mướn xe Mercedes để rước “cô Tiên” xuống trần.<br />
<br />
Tối đến là tiệc cưới tại nhà hàng La Lune, đối diện State Olympic, với 200 quan khách, họ hàng và bạn bè nhà trai, nhà gái. Dĩ nhiên là có nhạc sống do mấy tên bạn tôi tự mang đồ nghề đến giúp vui. Đêm đó, hai đứa tôi khiêu vũ và cụng ly với bạn bè gần tới sáng.<br />
<br />
Sau ngày chúng tôi thành hôn thì tình hình chính trị giữa hai nước Kampuchea và Miền Nam Việt Nam biến chuyển dồn dập. Ông bà nhạc tôi và gia đình bay về Sàigòn vài ngày sau đó. Vợ chồng tôi vẫn ở Nam Vang. Tôi vẫn đi làm ở L’UCIA .<br />
<br />
Khi xác nhiều người Việt trôi về tới Hồng Ngự, Tân Châu, ông Nguyễn Cao Kỳ – lúc đó là Phó Tổng Thống VNCH – ra lệnh cho Quân-đoàn 3 tràn qua biên giới, lấy cớ là để “bảo vệ kiều bào VN”. Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận lệnh với lời tuyên bố làm chấn động chính phủ Cao Miên: “Cho tôi 24 tiếng, tôi sẽ chiếm Nam Vang”.<br />
<br />
Ông Lon Nol nghe muốn té đái. Mới làm tổng thống có mấy ngày, nếu để QLVNCH chiếm Nam Vang thì mất mặt bầu cua. Ông gọi điện năn nỉ chính phủ VNCH đừng chiếm Nam vang nên Quân-đoàn 3 dừng lại ở Neak Luong (người Việt mình gọi là Hố Lương), một bến phà chỉ cách Nam vang 60 cây số.<br />
<br />
Nghe tin QLVNCH tràn qua biên giới, cả trăm ngàn kiều bào VN ở Cao Miên, trong đó có vợ chồng tôi, bỏ tất cả tài sản, dắt díu nhau vào các trại tị nạn. Các sân trường trung học, chùa, nhà thờ bỗng trở thành những trại tị nạn khổng lồ. Vợ chồng tôi vào trường Seminaire, nơi tôi đã học năm cuối chương trình Tú tài Pháp hai năm trước.<br />
<br />
Trong trại Seminaire, người ta chia ra nhiều nhóm, mỗi nhóm 10 gia đình, trước hết là để lãnh nước uống, sau là thức ăn, lúc đó chỉ có khô cá lóc do Red Cross cung cấp. Tôi làm trưởng nhóm 31.<br />
<br />
Đầu tháng 5/1970, ông Nguyễn Cao Kỳ bay lên Nam Vang, nói là thăm xã giao tướng Lon Nol nhưng thật sự là đi thanh tra các trại tị nạn. Tối đêm trước, tôi và các trưởng nhóm được lệnh phải thu tất cả những những gì có thể coi như là vũ khí gồm dao, gậy,… và cùng nhiều người thức gần sáng đêm để dựng cái sân khấu dã chiến.<br />
<br />
Khi ông Kỳ vào trại Seminaire, ông đến từng lều, bắt tay và hỏi thăm từng người. Điều làm mọi người chú ý là 2 anh đại-úy cận vệ. Họ cao hơn ông Kỳ 1 cái đầu, mặc đồ bay, mang súng ngắn dưới nách, nhưng không cản trở khi kiều bào đến bắt tay, thậm chí ôm hôn ông Kỳ.<br />
<br />
Ông Kỳ lên sấn khấu, nói vài lời thăm hỏi xã giao rồi hứa: “Tôi sẽ đưa tất cả đồng bào về quê hương!”<br />
<br />
Ông nhận được những tràng pháo tay như sấm động của mấy ngàn người trong trại Seminaire. Nhiều bà lão bò ra khoảng trống trước sân khấu lạy ông Kỳ như tế sao.<br />
<br />
Vài ngày sau, chúng tôi được phát thịt heo lần đầu, dù không ai biết ai cho nhưng mọi người nghĩ là từ chính phủ VNCH. Tuần sau, một đoàn “tàu há mồm” của Hải quân VNCH cặp bến sông Mekong.<br />
<br />
Danh sách từng nhóm được gọi để rời trại xuống tàu về nước. Vợ chồng tôi thuộc danh sách thứ 31 nên gần cuối tháng 5/1970 mới được rời trại. Sau 1 ngày lênh đênh trên sông Tiền (hay sông Hậu?) thì về tới trại Đồng Tâm, Mỹ Tho, lúc đó là hậu cứ của Sư-đoàn 7 BB.<br />
<br />
Vợ chồng tôi chỉ ở trại Đồng Tâm 5 ngày. Làm giấy tờ nhập cảnh xong thì Ba em lái xe xuống rước về Sàigòn.<br />
<br />
Cuộc sống chúng tôi từ ngày về Sàigòn không còn… tà tà như lúc ở Nam Vang. Cũng như tất cả Việt kiều hồi hương lúc đó, tôi được hoãn dịch 18 tháng. Thời gian không nhiều nên tôi làm ngày làm đêm. Em cũng đi làm. Cuối tuần hai đứa đưa nhau đi ăn mì xào dòn, hay ăn nghiêu luộc.<br />
<br />
Mỗi tối đi đàn về, tôi chạy thẳng vô Chợ Lớn mua cho em cái bánh bao Ông Cả Cần của Bà Năm Sa-Đéc. Lúc này em không còn thơ thẩn, mà ngược lại… em ăn rất bạo. Dù không nói ra, tôi biết em đang chuẩn bị cái bụng cho đứa con đầu lòng của chúng tôi, dù không biết lúc nào nó sẽ tượng hình.<br />
<br />
Nhiều người trong gia tộc hai bên thường trề môi nói “thằng B. con nhà lính tính nhà quan, mới ở Nam Vang về tay trắng mà vợ nó muốn gì được nấy”….<br />
<br />
Mấy người này không biết là lúc còn độc thân, tôi đã đọc một câu định nghĩa “người phụ nữ lý tưởng” của một người đàn ông như sau: “Người phụ nữ lý tưởng của một người đàn ông là người bạn, người tình và là người vợ của người đàn ông đó”.<br />
<br />
Hồi đọc câu đó, tôi chưa gặp cô Tiên nên tôi đã tự hỏi ngược lại là “tôi có thể vừa là người bạn, vừa là người tình, và là chồng của vợ tôi không”. Ông nào muốn biết cái vụ này nó khó cỡ nào cứ thử cua một cô bạn gái rồi cưới cổ về làm vợ thì sẽ hiểu câu… “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”.<br />
<br />
<br />
Nhưng khi gặp rồi thương yêu cô Tiên, cái định nghĩa xưa tự nó cho tôi lời giải đáp.<br />
<br />
Lúc mới thương nhau, tôi thường kể em nghe chuyện bồ bịch của tôi lúc trước. Em chẳng những không ghen hờn, mà còn góp ý đôi khi rất tiếu lâm, rồi hai đứa cười hí hí. Lúc hai đứa đi chơi, gặp cô nào có “ngực tấn công, mông phòng thủ” là tôi hay quay lại nhìn, em im lặng nắm tay tôi, đợi cô đó đi khỏi tầm mắt mới hỏi “bộ toi hổng thấy cổ đi hai hàng hả?”. Khi vào tiệm bán sách, tôi có cái tật (hổng biết xấu hay tốt) là đứng hơi lâu trước mấy cái đặc san người lớn như PlayBoy. Em im lặng đứng bên tôi, đến khi rời tiệm sách em mới phê bình… “nhỏ này vú đẹp, cô kia mông teo…”. Chỉ khi đến kệ bày mấy cuốn Salut les Copains, em mới thò tay lựa cuốn mới nhất và tự ra quầy trả tiền.<br />
<br />
Em chưa bao giờ bắt tôi trả tiền những gì em mua cho riêng em. Em chưa bao giờ lớn tiếng hay dùng lời lẽ không lịch sự với bất cứ ai, dù đôi khi tôi hay ai đó vô tình hoặc cố ý làm em giận.<br />
<br />
Ba em nói với em “Ba thấy nó đi nhảy đầm, tay trái một con, tay mặt một con”. Em trả lời “những gì ảnh làm lúc còn độc thân là quyền của ảnh, con không cần biết (thật ra tôi đã kể em nghe hết rồi). Chỉ cần biết hiện giờ hai đứa con thương nhau thật lòng là được rồi”.<br />
<br />
Em có cách hôn, chỉ phớt nhẹ, làm tôi hồn phi phách tán. Khi thấy tôi buồn, em cầm tay tôi, xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, khiến tôi quên hết mọi phiền não. Sau này thành vợ thành chồng, em vẫn là người tình tuyệt vời. Em biết cách làm tôi quên những nghiệt ngã mà tôi đã trải qua trong ngày hôm đó.<br />
<br />
Em biết tiết kiệm, vén khéo với số tiền mà chúng tôi kiếm được. Em không se sua, dù luôn ăn mặc thanh lịch. Mỗi lần hai đứa ra đường là tôi phải ngó trước nhìn sau, coi có tên nào nhìn lén em không. Khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời năm 1972, em tự nguyện bỏ bớt chuyện mua sắm cho riêng mình, để có đủ tiền cho con chúng tôi bú sữa Guigoz 3 năm liên tục.<br />
<br />
<br />
Cô Tiên đã là một người bạn, một người tình và là người vợ tuyệt vời của tôi.<br />
<br />
Được một người vợ như cô Tiên, em muốn gì được nấy không có gì quá đáng.<br />
<br />
Bán nhà cho em cũng được, huống chi là ba cái lẻ tẻ.<br />
<br />
Tháng 4/1972, tôi hết hạn hoãn dịch, phải đi lính cho tới ngày tan hàng.<br />
<br />
Sau 75, có ngày hai đứa phải ăn sáng bằng… cơm nguội, nhưng em luôn dành 1 hoặc 2 đồng cho con chúng tôi có gói xôi nóng hay tô cháo huyết.<br />
<br />
Cực nhất là lúc chúng tôi về quê tôi sống từ năm 1976 đến năm 1979. Má tôi cho hai công ruộng và nửa công vườn, đủ cho gia đình chúng tôi sinh sống, không cần phải đi làm mướn, làm thuê. Nhưng không may là hai năm 77-78, lũ lụt tràn vào ngập ruộng trước khi lúa chín. Nông dân vùng Tân châu đói thể thảm. May mà tôi cất nhà sàn, cao khoảng 1.5m, nên nước ngập lé đé sàn nhà.<br />
<br />
<br />
Nhiều nông gia ở nhà đất, phải kê tủ giường lên cao, có người kê giường tới gần đụng nóc nhà.<br />
<br />
Mỗi ngày, cô Tiên ngồi trên sàn nước, miệt mài câu từng con cá chốt, cá sặc, cá lòng tong. Tôi không dám nhìn lâu. Đến bữa ăn chỉ có món cá kho thập cẩm vậy mà thằng con khen “má kho cá ăn ngon”. Tôi mắc nghẹn từng hồi. Rồi cũng qua.<br />
<br />
Ở quê, em không cho con đi học, nói mấy ổng dốt mà dạy cái gì! Vợ chồng tôi thay nhau dạy con nói và viết tiếng Việt, tiếng Pháp. Bài học tiếng Việt đầu tiên là bốn câu thơ của ngài Lý Thường Kiệt :<br />
<br />
Nam quốc sơn hà Nam đế cư<br />
<br />
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư<br />
<br />
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm<br />
<br />
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.<br />
<br />
Tiếng Pháp thì chúng tôi dạy con nói và viết những câu chào hỏi thông thường, không ngờ khi qua Úc nó học tiếng Anh nhanh hơn những bạn tị nạn khác nhờ tiếng Pháp và tiếng Anh có nhiều chữ giống nhau.<br />
<br />
Qua năm 79, tôi trúng mùa. Bán mấy chục giạ lúa, thêm chút tiền dành dụm, mua được cái ghe nhỏ, tính chuyện lớn. Khoang ghe chỉ vừa đủ cho hai người lớn và một đứa nhỏ chen vai nhau ngủ. Tôi không biết chèo, tập cả tháng sau mới chèo được hai chèo. Em không biết lội nhưng nhất quyết đòi đi đến những nơi có thể cho chúng tôi thấy được tương lai. Em nói “mình đã sống mấy năm ‘có miệng không nói lại câm, hai hàng nước mắt chan dầm như mưa’. Đủ rồi, phải đi tìm tương lai cho mình và cho con”.<br />
<br />
<br />
Vậy là đi. Chèo từ Tân châu tới Long xuyên mất hai ngày. Nghỉ xả hơi một ngày rồi chèo tiếp tới Ô Môn, Cần Thơ, Ngã 7, Sóc Trăng, Hộ Phòng, Gành Hào, và sau cùng là ngã 3 cây Tàn. Ở ngã 3 cây Tàn hơn một tháng vì có người mướn tôi đào ao nuôi cá. Đào ao một tháng được hai giạ gạo và một mớ tiền. Chúng tôi trở ra Gành hào vì thấy nơi này là nơi lý tưởng để ra đi. Tôi giấu dưới khoang ghe cái máy đuôi tôm, thường ngày không dám sử dụng, sợ người ta dòm ngó, định khi nào đi mới xài.<br />
<br />
Ở Gành Hào đêm trước, thì đêm sau bị bão.<br />
<br />
Mưa như trút nước, sấm chớp đầy trời. Chiếc ghe tôi lắc lư như người say rượu, nửa đêm đứt dây buộc sào trôi ra giữa sông. May là lúc đó nước lớn, nước từ ngoài biển đổ vô sông, nếu ngược lại thì có thể bão đã đưa chúng tôi qua Thái Lan hay hổng chừng… vô bụng cá. Tôi cột sợi dây quanh bụng, cố gắng lội vô bờ.<br />
<br />
Hình như… lúc không còn cái gì để sợ nữa thì mình mạnh hơn bình thường nên tôi đã kéo chiếc ghe tới dưới dạ cầu chợ Gành hào. Buộc dây ghe lại đàng hoàng là tôi ngã lăn ra thở dốc, lạnh run cầm cập. Em lau mình cho tôi và đưa tôi cái bánh bía, hổng biết em mua lúc nào, đúng là cô Tiên. Ăn cái bánh bía đêm đó, hương vị thơm ngon còn phảng phất tới bây giờ.<br />
<br />
<br />
Bye bye Gành hào, tôi gắn máy đuôi tôm chạy về Long Xuyên. Chúng tôi ở Long Xuyên gần ba năm. Tôi làm bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện, để có tiền nuôi vợ con. Có lúc đạp xe lôi, có lúc vác lúa gạo ở các nhà máy xay lúa, có lúc làm tạp nhạp.<br />
<br />
<br />
Đến tháng 2/1982, em tìm được đường dây ra nước ngoài vừa với khả năng của vợ chồng tôi lúc đó. Cái may là chúng tôi chỉ đi một lần là tới Mã Lai. Ở Bidong một tháng rưỡi là được phái đoàn Úc nhận. Qua trại chuyển tiếp Sungei Besi2, ngoại ô Kuala Lumpur để khám bệnh, bổ túc hồ sơ. Ba tháng rưỡi sau là chúng tôi có list đi Úc.<br />
<br />
Vài ngày sau khi đặt chân lên đất Úc, lúc đó chúng tôi chỉ biết tiếng Pháp chưa biết tiếng Anh. Em nói với tôi “moi không thích nhờ thông dịch, nhà mình phải có một người giỏi tiếng Anh, toi phải đi học. Moi sẽ đi làm nuôi toi và con”! Nghe ghê chưa?<br />
<br />
Mà em cũng không biết tiếng Anh thì đi làm cái gì? Em quên mình từng là một tiểu thơ được cơm bưng nước rót, em quên mình từng đi học có xe đưa rước, em quên mình là… cô tiên của tôi. nên ai mướn gì làm nấy. Quét dọn nhà cửa cho người Úc, chăm sóc con em của đồng hương, làm chả giò bán sĩ (không biết em học ở đâu mà làm chả giò và đổ bánh xèo ngon nhất Darwin).<br />
<br />
<br />
Tôi cũng đi làm ban ngày, đi học ban đêm. Bảy năm ròng rã, tôi lấy được 2 cái Certificates về kế toán và quản trị địa ốc và xin được cái job “Security Administrator” tại trường đại học Charles Darwin University ở Darwin đầu năm 1985. Tôi làm việc tại CDU liên tục hơn 27 năm, đến khi nghỉ hưu cuối năm 2012.<br />
<br />
Em không đi học tiếng Anh một ngày nào nhưng sau này… lại làm thông dịch cho bạn bè, nhiều nhất là mấy cô lấy chồng Úc, mới qua Úc chân ướt chân ráo, tìm đến em nhờ giúp đỡ. Em chở họ đi làm hồ sơ nhập cư, điền đơn xin tiền an sinh xã hội… Bà xã tôi thương đồng hương nên ai nhờ thì giúp, cứ ăn cơm nhà vác ngà voi, không đòi hỏi ai phải trả đồng bạc nào dù biết làm thông dịch cũng được trả tiền. Mấy cô vợ Úc thương em lắm, cuối tuần là ghé nhà tôi xào xào nấu nấu … thật vui.<br />
<br />
Hỏi em mới biết, em học tiếng Anh bằng cách theo dõi các chương trình Play School trên TV. Chương trình này dạy con nít Úc nói/viết tiếng Anh để chuẩn bị vô mẫu giáo. Em đọc báo tôi mang về mỗi ngày. Không hiểu chữ nào, đoạn nào thì em hỏi tôi hay tra tự điển.<br />
<br />
<br />
Tiếu lâm nhất là khi bà hàng xóm nhờ em làm thông dịch. Bà này gốc Ý (Italy), có chồng gốc Tây Ban Nha (Spain). Bà ta đến Úc theo diện vợ chồng năm 1978 và không đi học ngày nào. Khi rảnh rỗi bà ta qua nói chuyện với bà xã tôi. Bà ta nói “broken english” với giọng Ý nên tôi và mọi người không ai hiểu cả. Vậy mà bà xã tôi hiểu nên mỗi lần bà hàng xóm cần đi bác sĩ, hay bất cứ cơ quan công quyền nào ở Darwin là qua năn nỉ nhà tôi theo làm thông dịch.<br />
<br />
<br />
Một năm sau ngày đến Úc, tôi được bầu làm tổng thư ký Hội Người Việt Tự Do tại Darwin, sau đổi tên thành CĐNVTD Bắc Úc cho tới bây giờ. Tôi dính với các sinh hoạt của CĐ mình cho tới năm 2017 mới rút chân ra được. Suốt thời gian này, bất cứ tôi làm cái gì đều có sự giúp đỡ, yểm trợ khi công khai khi âm thầm của cô Tiên.<br />
<br />
Đứa con thứ hai của chúng tôi chào đời năm 1984 tại Darwin. Nhìn em cho con bú, tắm rửa cho con, nâng niu thằng nhỏ như vàng như ngọc, tôi nhớ lại những ngày hai đứa mới thương nhau, mỗi lần bên nhau là bàn chuyện mai này… tôi viết bài thơ tặng em.<br />
<br />
<br />
Một chiều lãng đãng ánh tà dương<br />
<br />
Em kể anh nghe chuyện mộng thường<br />
<br />
Đôi mắt em nhìn xao xuyến quá<br />
<br />
Như sao lấp lánh một trời thương.<br />
<br />
Từ đó đời mình hết lẻ loi<br />
<br />
Đan tay qua phố bước chung đôi<br />
<br />
Em cười rạng rỡ như tiên nữ<br />
<br />
Tiên nữ của anh – cũng được rồi.<br />
<br />
Từ đó đời mình ươm ước mơ<br />
<br />
Từng đêm anh cắn bút làm thơ<br />
<br />
Mỗi dòng ôm ấp ngàn thương nhớ<br />
<br />
Thương nhớ lớn theo nổi đợi chờ.<br />
<br />
Từ đó mình bàn chuyện lứa đôi<br />
<br />
Mai này, mình có hai con thôi<br />
<br />
Trưởng nam, phần nó lo hương hỏa<br />
<br />
Em nó, cô Ba – có rượu mời.<br />
<br />
Từ đó mình bàn chuyện cưới nhau<br />
<br />
Anh giành chọn áo cưới cô dâu<br />
<br />
Màu vàng, hoàng hậu lòng anh đó<br />
<br />
Em nói : – Màu hồng, áo cô dâu!<br />
<br />
Từ lúc về làm vợ của anh<br />
<br />
Âm thầm mình kết mộng ngày xanh<br />
<br />
Trưởng nam bật khóc, cưng như ngọc<br />
<br />
Đứa kế trai luôn, quý tựa vàng.<br />
<br />
Nhiều đêm nằm gác tay lên trán<br />
<br />
Anh cám ơn Trời, cám ơn em<br />
<br />
Bảy nổi ba chìm mình chẳng ngán<br />
<br />
Vì em có anh, anh có em.<br />
<br />
<br />
Từ năm 2005 đến năm 2015, chúng tôi tổ chức những bữa ăn cứu trợ Thương Phế Binh còn sống khổ sở nơi quê mình bằng cách… tổ chức BBQ tại nhà tôi. Thức ăn do bà xã tôi và vài người bạn thân cùng chung sức nấu nướng, tôi bỏ tiền túi mua bia và nước giải khát. Ăn uống free. Tôi để 1 cái “Thùng Cứu trợ” trên bàn, ai cho bao nhiêu, tôi gởi về VN giúp anh em thương phế binh bấy nhiêu, theo tiêu chuẩn mỗi người 100 Úc kim.<br />
<br />
<br />
Vì số người Việt ở Darwin rất khiêm nhường, chỉ có vài trăm người, nên lúc đầu chỉ được vài ngàn. Từ từ, bà con tin tưởng nên khi có dịp đi ngang nhà tôi là họ bỏ tiền vô thùng thơ, không đợi đến Bữa ăn Cứu trợ.<br />
<br />
<br />
Gõ máy tới đây, bỗng nhiên làm biếng… không muốn gõ máy nữa, vì đang nhớ cô Tiên, nhớ quá xá nhớ.<br />
<br />
<br />
Cô Tiên của tôi đã về trời sau khi đã cùng sống chung với cha con tôi 43 năm, 3 tháng, 27 ngày hạnh phúc. Em quy tiên sau một cơn bạo bệnh. Từ một người mạnh khỏe bình thường, đúng 5 tuần sau thành người thiên cổ.<br />
<br />
<br />
Trong những ngày cuối của cuộc sống nơi dương thế, khi thấy hai con đứng nhìn em, nước mắt lưng tròng, em cầm tay con lắc lắc, mỉm cười nói: “Chúa cũng chết, Phật cũng chết, thì Má cũng chết. Má đã trả xong món nợ ân tình với Ba con và các con thì Má đi. Con trai khóc… xấu lắm”. Con tôi quẹt nước mắt… miệng cười méo xẹo.<br />
<br />
Trong Hospice Hospital, nơi dành cho những bệnh nhân… “terminally ill”, mỗi ngày có y tá đến đánh răng và lau mình cho em. Có một lần em cám ơn họ “Thanks so much for keeping my body clean. I know it’s shutting down”. Cô y tá người Úc trợn mắt nhìn em, rưng rưng nước mắt. Sau này, cô nói với tôi “Tao chưa thấy ai sắp chết mà còn lịch sự và tỉnh táo như vợ mầy”.<br />
<br />
<br />
Khi biết mình sắp trả xong cái nghiệp ở dương gian, em nắm tay tôi dặn dò phải tổ chức tang lễ em như thế nào. Thỉnh vị tăng ni nào chủ trì tang lễ, xong phải hỏa thiêu và chỉ giữ tro cốt 100 ngày. Sau đó mang tro cốt em rải trên sông Parramatta, đoạn gần Opéra House ở Sydney, là nơi em thích đi dạo mỗi lần đi thăm con. Em nói nhỏ nhẹ như đang lo tang lễ của ai khác. Tôi chỉ biết im lặng gật đầu, ráng kềm cho nước mắt đừng chảy ra. Tôi đã làm đúng theo lời em dặn.<br />
<br />
<br />
Từ ngày cô Tiên về trời, cha con tôi đứt ruột đứt gan, tan nát trong lòng. Tôi đã sống những ngày như người chết chưa chôn.<br />
<br />
<br />
(Câu chuyện kể có thật của Buu Nguyen)<br />
<br />
LeVanQuy sưu tầm]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[WOW !!! Interesting article !]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8021</link>
			<pubDate>Thu, 18 Aug 2022 02:29:06 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8021</guid>
			<description><![CDATA[<a href="https://www.facebook.com/engineeringexploration/photos/a.104831695419834/168045522431784/" target="_blank">https://www.facebook.com/engineeringexpl...522431784/</a><br />
<br />
<img src="https://scontent-hou1-1.xx.fbcdn.net/v/t39.30808-6/298727197_168045519098451_4814079189386372478_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=f_-u_88fkkQAX8L1ziw&amp;tn=TsyTPjBXt51heswD&amp;_nc_ht=scontent-hou1-1.xx&amp;oh=00_AT-wRxnjuLndyUCG2Z5AgdgUI8ZROBHeNE7Olhe-s0TGmg&amp;oe=63033DF8" border="0" alt="[Image: 298727197_168045519098451_48140791893863...e=63033DF8]" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<a href="https://www.facebook.com/engineeringexploration/photos/a.104831695419834/168045522431784/" target="_blank">https://www.facebook.com/engineeringexpl...522431784/</a><br />
<br />
<img src="https://scontent-hou1-1.xx.fbcdn.net/v/t39.30808-6/298727197_168045519098451_4814079189386372478_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=f_-u_88fkkQAX8L1ziw&amp;tn=TsyTPjBXt51heswD&amp;_nc_ht=scontent-hou1-1.xx&amp;oh=00_AT-wRxnjuLndyUCG2Z5AgdgUI8ZROBHeNE7Olhe-s0TGmg&amp;oe=63033DF8" border="0" alt="[Image: 298727197_168045519098451_48140791893863...e=63033DF8]" />]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Lời tạm biệt của cựu Đệ Nhất Phu Nhân Nhật Bản Akie, gửi cho chồng mình]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8010</link>
			<pubDate>Sun, 10 Jul 2022 19:30:40 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=8010</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-family: inherit;"><img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/t9b/1.5/16/2618.png" border="0" alt="[Image: 2618.png]" />.<img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/t9b/1.5/16/2618.png" border="0" alt="[Image: 2618.png]" /></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/t3e/1.5/16/269c.png" border="0" alt="[Image: 269c.png]" />Thư gửi người đi!</span><span style="font-family: inherit;"><img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/tc8/1.5/16/1f337.png" border="0" alt="[Image: 1f337.png]" />Shinzo thương yêu!</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Thế là Mình đã đột ngột bỏ Em ra đi không một lời trăn trối. Sáng ngày hôm đó, cũng như bình thường, Mình vẫn ăn những món ăn đơn giản, vài cục cơm nắm, vài miếng dưa món và chén miso quen thuộc mà Em hay làm. Mình ra khỏi nhà chào Em: “Ittekimasu” và Em vẫn đợi Mình về để nói: </span><span style="font-family: inherit;">“Gokurosan, Okaerinasai”.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">[/font]<br />
<span style="font-family: inherit;">Mình đã không còn trách vụ gì trong chính phủ, Mình chỉ là một thành viên của Tổ Chức, nhưng Mình đã đi khắp mọi nơi để khích lệ cho những ứng cử viên cùng chí hướng.</span><br />
<span style="font-family: inherit;"></span><br />
<span style="font-family: inherit;">Mình bận, Em cũng chả biết phải làm gì để phụ giúp Mình, Em biết là Mình vẫn đang tiếp tục theo đuổi những chủ trương dang dở mà Mình đã đặt ra, Em nhớ Mình nhất câu nói: “Cải cách, cúi đầu xin lỗi không chỉ là cách duy nhất, mà chúng ta phải cố gắng lấy lại sức mạnh của Nhật Bản, không phải bằng cách gây chiến tranh để “mở mang bờ cõi” như những lớp đi trước đã làm”.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Nghe tin Mình bị bắn và tim đã ngừng đập, Em thu xếp đi ngay để mong gặp Mình. Em đã sửa soạn cho Mình một bộ quần áo đàng hoàng mà Mình thích để thay bộ quần áo vương đầy máu, nếu có chuyện chẳng lành, khi ra đi Mình vẫn là Mình: Tinh anh, Sâu sắc. </span><br />
<span style="font-family: inherit;">Trên con đường từ nhà đến chỗ Mình dài hơn 4 tiếng, Em cầu nguyện cho phép lạ xảy ra: Mình sẽ mở mắt, âu yếm nhìn Em và thủ thỉ: “Mình còn đây nè Em, chẳng có gì phải lo cả”.</span><br />
<span style="font-family: inherit;"></span><br />
[font=inherit]Hình như là Mình đã cố gắng đợi Em đến để nói lời cuối cùng nhưng không thể, Mình đã mất sau khi Em đến khoảng 3 phút, bác sĩ đã thông báo cho Em trước khi chính thức tuyên bố ra ngoài. Em lặng người vì khoảng cách giữa Tin Vui và Tin Dữ sao quá mong manh. Cuối cùng Mình đã đi xa không về nữa.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Hôm nay Em đưa Mình trở về ngôi nhà của vợ chồng mình đã từng có mấy chục năm chia bùi sẻ ngọt. Định tâm sự nhiều với Mình hơn, mà thôi đợi gặp lại nhau, ta tha hồ mà nói nhé.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Bây giờ nghe Em nói đây: </span><span style="font-family: inherit;">“Em sẽ yêu thương Mình cho đến cuối đời”.</span><span style="font-family: inherit;">Mình nghe chưa !</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">⚘️Akie. (Nhật Hạ dịch)</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Nguồn Fb</span><br />
<span style="font-family: inherit;"><br />
</span><br />
<img src="https://scontent-dfw5-2.xx.fbcdn.net/v/t39.30808-6/292796096_2139840036193731_8862963008695959253_n.jpg?stp=cp1_dst-jpg&amp;_nc_cat=108&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=5cd70e&amp;_nc_ohc=xSScmwm-DvcAX_bIZ3M&amp;_nc_ht=scontent-dfw5-2.xx&amp;oh=00_AT8q414k9MDQCXzV7cZ15u2Ff-Dk8eZA4k-Uk36xgc-GsA&amp;oe=62CFC0FC" border="0" alt="[Image: 292796096_2139840036193731_8862963008695...e=62CFC0FC]" /><span style="font-family: inherit;"><br />
</span><br />
<br />
Vô cùng thương tiếc ông ! <img src="images/smilies/heart.gif" style="vertical-align: middle;" border="0" alt="Heart" title="Heart" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-family: inherit;"><img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/t9b/1.5/16/2618.png" border="0" alt="[Image: 2618.png]" />.<img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/t9b/1.5/16/2618.png" border="0" alt="[Image: 2618.png]" /></span><br />
<span style="font-family: inherit;"><img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/t3e/1.5/16/269c.png" border="0" alt="[Image: 269c.png]" />Thư gửi người đi!</span><span style="font-family: inherit;"><img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/tc8/1.5/16/1f337.png" border="0" alt="[Image: 1f337.png]" />Shinzo thương yêu!</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Thế là Mình đã đột ngột bỏ Em ra đi không một lời trăn trối. Sáng ngày hôm đó, cũng như bình thường, Mình vẫn ăn những món ăn đơn giản, vài cục cơm nắm, vài miếng dưa món và chén miso quen thuộc mà Em hay làm. Mình ra khỏi nhà chào Em: “Ittekimasu” và Em vẫn đợi Mình về để nói: </span><span style="font-family: inherit;">“Gokurosan, Okaerinasai”.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">[/font]<br />
<span style="font-family: inherit;">Mình đã không còn trách vụ gì trong chính phủ, Mình chỉ là một thành viên của Tổ Chức, nhưng Mình đã đi khắp mọi nơi để khích lệ cho những ứng cử viên cùng chí hướng.</span><br />
<span style="font-family: inherit;"></span><br />
<span style="font-family: inherit;">Mình bận, Em cũng chả biết phải làm gì để phụ giúp Mình, Em biết là Mình vẫn đang tiếp tục theo đuổi những chủ trương dang dở mà Mình đã đặt ra, Em nhớ Mình nhất câu nói: “Cải cách, cúi đầu xin lỗi không chỉ là cách duy nhất, mà chúng ta phải cố gắng lấy lại sức mạnh của Nhật Bản, không phải bằng cách gây chiến tranh để “mở mang bờ cõi” như những lớp đi trước đã làm”.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Nghe tin Mình bị bắn và tim đã ngừng đập, Em thu xếp đi ngay để mong gặp Mình. Em đã sửa soạn cho Mình một bộ quần áo đàng hoàng mà Mình thích để thay bộ quần áo vương đầy máu, nếu có chuyện chẳng lành, khi ra đi Mình vẫn là Mình: Tinh anh, Sâu sắc. </span><br />
<span style="font-family: inherit;">Trên con đường từ nhà đến chỗ Mình dài hơn 4 tiếng, Em cầu nguyện cho phép lạ xảy ra: Mình sẽ mở mắt, âu yếm nhìn Em và thủ thỉ: “Mình còn đây nè Em, chẳng có gì phải lo cả”.</span><br />
<span style="font-family: inherit;"></span><br />
[font=inherit]Hình như là Mình đã cố gắng đợi Em đến để nói lời cuối cùng nhưng không thể, Mình đã mất sau khi Em đến khoảng 3 phút, bác sĩ đã thông báo cho Em trước khi chính thức tuyên bố ra ngoài. Em lặng người vì khoảng cách giữa Tin Vui và Tin Dữ sao quá mong manh. Cuối cùng Mình đã đi xa không về nữa.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Hôm nay Em đưa Mình trở về ngôi nhà của vợ chồng mình đã từng có mấy chục năm chia bùi sẻ ngọt. Định tâm sự nhiều với Mình hơn, mà thôi đợi gặp lại nhau, ta tha hồ mà nói nhé.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Bây giờ nghe Em nói đây: </span><span style="font-family: inherit;">“Em sẽ yêu thương Mình cho đến cuối đời”.</span><span style="font-family: inherit;">Mình nghe chưa !</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">⚘️Akie. (Nhật Hạ dịch)</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Nguồn Fb</span><br />
<span style="font-family: inherit;"><br />
</span><br />
<img src="https://scontent-dfw5-2.xx.fbcdn.net/v/t39.30808-6/292796096_2139840036193731_8862963008695959253_n.jpg?stp=cp1_dst-jpg&amp;_nc_cat=108&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=5cd70e&amp;_nc_ohc=xSScmwm-DvcAX_bIZ3M&amp;_nc_ht=scontent-dfw5-2.xx&amp;oh=00_AT8q414k9MDQCXzV7cZ15u2Ff-Dk8eZA4k-Uk36xgc-GsA&amp;oe=62CFC0FC" border="0" alt="[Image: 292796096_2139840036193731_8862963008695...e=62CFC0FC]" /><span style="font-family: inherit;"><br />
</span><br />
<br />
Vô cùng thương tiếc ông ! <img src="images/smilies/heart.gif" style="vertical-align: middle;" border="0" alt="Heart" title="Heart" />]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[ Đầu bếp Preston Nguyễn, vô địch World Chef Champion 2021]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7996</link>
			<pubDate>Fri, 10 Jun 2022 01:14:01 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7996</guid>
			<description><![CDATA[<br />
<object type="application/x-shockwave-flash" class="video_embed" style="width: 450px; height: 366px;" data="http://www.youtube.com/v/jjI6kuVvqF8"><param name="movie" value="http://www.youtube.com/v/jjI6kuVvqF8" /></object><br />
]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<br />
<object type="application/x-shockwave-flash" class="video_embed" style="width: 450px; height: 366px;" data="http://www.youtube.com/v/jjI6kuVvqF8"><param name="movie" value="http://www.youtube.com/v/jjI6kuVvqF8" /></object><br />
]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Cung Tiến: Vị nhạc sĩ tài hoa - Huy Nguyen]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7991</link>
			<pubDate>Sun, 05 Jun 2022 17:32:20 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7991</guid>
			<description><![CDATA[Khác với nhạc sĩ Phạm Duy "đi dây" đi đó trình diễn nhiều và chính kiến thì xoay mòng mòng, “Ai nói gì mặc kệ, miễn sao Đời đừng quên nhạc của tôi”; thì nhạc sĩ Cung Tiến có sinh hoạt văn nghệ không phô trương và đời tư không tai tiếng.<br />
<br />
Về gia tài âm nhạc, Phạm Duy đồ sộ hơn, nhưng nếu nghe những Thu Vàng, Hoài Cảm mà nhạc sĩ Cung Tiến sáng tác năm 14-15 tuổi (1953) và 4 năm sau đó là Hương Xưa thì ta thấy cảm xúc không thua gì những tuyệt tác của nhạc sĩ đàn anh; và có thể nói nét lãng mạn của dòng nhạc cổ điển tây phương đã được nhạc sĩ Cung Tiến đưa vào nền âm nhạc Việt phôi thai một cách khéo léo, trở nên bất tử trong lòng người nghe.<br />
<br />
Nhạc sĩ Phạm Duy thì tôi đã có diễm phúc đi cùng ông 2 lần để giới thiệu Bầy Chim Bỏ Xứ Và Con Đường Cái Quan trên đất Nhật; chưa kể một buổi trình diễn đình đám chung sân khấu với ông và ca sĩ con gái cưng Thái Hiền ở Tokyo khoảng 25 năm trước. Vì thế tôi được nghe ông nói chuyện nhiều và cảm thấy rất gần gũi, đời thường. Trong khi Cung Tiến là người tôi chỉ được nghe tên với lòng kính trọng tuyệt đối. Đặc biệt là khi tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của ông được MTQGTNGPVN chọn trao giải “Văn học nghệ thuật Quốc Khánh” năm 1988.<br />
<br />
「Quốc khánh ở đây không phải là 2-9 tại Việt Nam mà là ngày Quốc Tổ Hùng Vương được Mặt Trận QGTNGPVN chọn đề nghị thay thế cho 2-9. Vào thập niên cuối 70-80, ngày Giỗ tổ trong nước có ai thèm đoái hoài tới đâu, chỉ được chú ý sau thời kỳ Đổi mới. Vấn đề này thuộc một phạm vi khác nên nếu có dịp tôi sẽ ngồi tán chuyện sau」.<br />
<br />
Trở lại Hợp tấu khúc “Chinh Phụ Ngâm Khúc”; Nhạc sĩ Cung Tiến viết cho 21 nhạc cụ dàn giao hưởng với sự kết hợp nhạc dây dân tộc, được Giàn nhạc giao hưởng San Jose trình tấu và gây tiếng vang lớn trong cộng đồng bấy giờ.<br />
Đầu thập niên 90, trong lúc lang thang đường phố Đông Kinh với cụ Phạm Duy, ông thổ lộ một điều mà tôi nghĩ là rất thật với con người ông: -Phải chi MT trao giải cho “Bầy chim bỏ xứ” của tôi thì đã có kinh phí để tổ chức một buổi trình tấu thính phòng lớn. (Lúc bấy giờ “Bầy chim bỏ xứ” của ông đã ra CD với phần hòa âm của Duy Cường, nhưng chỉ là trên máy vi tính thông qua các module nhạc cụ điện tử chứ không được chơi bằng “nhạc khí sống”).<br />
<br />
Nhắc lại câu chuyện của những thiên tài âm nhạc Việt Nam không phải là để so sánh; các Cụ đã mất và để lại di sản vô giá cho kho tàng âm nhạc Việt. Không biết bao giờ sẽ có những buổi trình tấu nhạc giao hưởng mang tính cách lịch sử Việt Nam với Con Đường Cái Quan, Bầy chim bỏ xứ, Chinh Phụ ngâm khúc v.v...<br />
<br />
Riêng tôi, mỗi lần nhớ Mẹ, nhớ Quê thì Hương Xưa của nhạc sĩ Cung Tiến lại văng vẳng bên tai. Tôi nghĩ chắc tới lúc lìa cõi trần thì chắc âm hưởng đó sẽ vẫn theo tôi về thế giới bên kia.<br />
<br />
Cảm tạ bác Cung Tiến; vị nhạc sĩ tài hoa đã ra đi ngày 10-5-2022.<br />
<br />
“Người ơi… còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao<br />
Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao.<br />
Còn đó tiếng khung quay tơ, Còn đó con diều vật vờ<br />
Còn đó nói bao nhiêu lời thương yêu đến kiếp nào cho vừa.”<br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-1.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/286370203_3481628362124386_6148958353625315324_n.jpg?_nc_cat=101&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=730e14&amp;_nc_ohc=YLtGolgAUhgAX_xzsX1&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-1.fna&amp;oh=00_AT__k292KVJy-JQUcRkfFXIpA5ve621mZMPVSoK0a5o_5w&amp;oe=62A18213" border="0" alt="[Image: 286370203_3481628362124386_6148958353625...e=62A18213]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent-dfw5-1.xx.fbcdn.net/v/t39.30808-6/286338853_3481628415457714_7068359505215361217_n.jpg?_nc_cat=110&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=730e14&amp;_nc_ohc=UCdN650PGlIAX8_xv13&amp;tn=cJngb0KZca2tlgh_&amp;_nc_ht=scontent-dfw5-1.xx&amp;oh=00_AT-Cn1vwxnZdtZttwPRL6IEELOe-2lSqHDqtHrgj9pZIdQ&amp;oe=62A19A61" border="0" alt="[Image: 286338853_3481628415457714_7068359505215...e=62A19A61]" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Khác với nhạc sĩ Phạm Duy "đi dây" đi đó trình diễn nhiều và chính kiến thì xoay mòng mòng, “Ai nói gì mặc kệ, miễn sao Đời đừng quên nhạc của tôi”; thì nhạc sĩ Cung Tiến có sinh hoạt văn nghệ không phô trương và đời tư không tai tiếng.<br />
<br />
Về gia tài âm nhạc, Phạm Duy đồ sộ hơn, nhưng nếu nghe những Thu Vàng, Hoài Cảm mà nhạc sĩ Cung Tiến sáng tác năm 14-15 tuổi (1953) và 4 năm sau đó là Hương Xưa thì ta thấy cảm xúc không thua gì những tuyệt tác của nhạc sĩ đàn anh; và có thể nói nét lãng mạn của dòng nhạc cổ điển tây phương đã được nhạc sĩ Cung Tiến đưa vào nền âm nhạc Việt phôi thai một cách khéo léo, trở nên bất tử trong lòng người nghe.<br />
<br />
Nhạc sĩ Phạm Duy thì tôi đã có diễm phúc đi cùng ông 2 lần để giới thiệu Bầy Chim Bỏ Xứ Và Con Đường Cái Quan trên đất Nhật; chưa kể một buổi trình diễn đình đám chung sân khấu với ông và ca sĩ con gái cưng Thái Hiền ở Tokyo khoảng 25 năm trước. Vì thế tôi được nghe ông nói chuyện nhiều và cảm thấy rất gần gũi, đời thường. Trong khi Cung Tiến là người tôi chỉ được nghe tên với lòng kính trọng tuyệt đối. Đặc biệt là khi tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của ông được MTQGTNGPVN chọn trao giải “Văn học nghệ thuật Quốc Khánh” năm 1988.<br />
<br />
「Quốc khánh ở đây không phải là 2-9 tại Việt Nam mà là ngày Quốc Tổ Hùng Vương được Mặt Trận QGTNGPVN chọn đề nghị thay thế cho 2-9. Vào thập niên cuối 70-80, ngày Giỗ tổ trong nước có ai thèm đoái hoài tới đâu, chỉ được chú ý sau thời kỳ Đổi mới. Vấn đề này thuộc một phạm vi khác nên nếu có dịp tôi sẽ ngồi tán chuyện sau」.<br />
<br />
Trở lại Hợp tấu khúc “Chinh Phụ Ngâm Khúc”; Nhạc sĩ Cung Tiến viết cho 21 nhạc cụ dàn giao hưởng với sự kết hợp nhạc dây dân tộc, được Giàn nhạc giao hưởng San Jose trình tấu và gây tiếng vang lớn trong cộng đồng bấy giờ.<br />
Đầu thập niên 90, trong lúc lang thang đường phố Đông Kinh với cụ Phạm Duy, ông thổ lộ một điều mà tôi nghĩ là rất thật với con người ông: -Phải chi MT trao giải cho “Bầy chim bỏ xứ” của tôi thì đã có kinh phí để tổ chức một buổi trình tấu thính phòng lớn. (Lúc bấy giờ “Bầy chim bỏ xứ” của ông đã ra CD với phần hòa âm của Duy Cường, nhưng chỉ là trên máy vi tính thông qua các module nhạc cụ điện tử chứ không được chơi bằng “nhạc khí sống”).<br />
<br />
Nhắc lại câu chuyện của những thiên tài âm nhạc Việt Nam không phải là để so sánh; các Cụ đã mất và để lại di sản vô giá cho kho tàng âm nhạc Việt. Không biết bao giờ sẽ có những buổi trình tấu nhạc giao hưởng mang tính cách lịch sử Việt Nam với Con Đường Cái Quan, Bầy chim bỏ xứ, Chinh Phụ ngâm khúc v.v...<br />
<br />
Riêng tôi, mỗi lần nhớ Mẹ, nhớ Quê thì Hương Xưa của nhạc sĩ Cung Tiến lại văng vẳng bên tai. Tôi nghĩ chắc tới lúc lìa cõi trần thì chắc âm hưởng đó sẽ vẫn theo tôi về thế giới bên kia.<br />
<br />
Cảm tạ bác Cung Tiến; vị nhạc sĩ tài hoa đã ra đi ngày 10-5-2022.<br />
<br />
“Người ơi… còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao<br />
Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao.<br />
Còn đó tiếng khung quay tơ, Còn đó con diều vật vờ<br />
Còn đó nói bao nhiêu lời thương yêu đến kiếp nào cho vừa.”<br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-1.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/286370203_3481628362124386_6148958353625315324_n.jpg?_nc_cat=101&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=730e14&amp;_nc_ohc=YLtGolgAUhgAX_xzsX1&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-1.fna&amp;oh=00_AT__k292KVJy-JQUcRkfFXIpA5ve621mZMPVSoK0a5o_5w&amp;oe=62A18213" border="0" alt="[Image: 286370203_3481628362124386_6148958353625...e=62A18213]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent-dfw5-1.xx.fbcdn.net/v/t39.30808-6/286338853_3481628415457714_7068359505215361217_n.jpg?_nc_cat=110&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=730e14&amp;_nc_ohc=UCdN650PGlIAX8_xv13&amp;tn=cJngb0KZca2tlgh_&amp;_nc_ht=scontent-dfw5-1.xx&amp;oh=00_AT-Cn1vwxnZdtZttwPRL6IEELOe-2lSqHDqtHrgj9pZIdQ&amp;oe=62A19A61" border="0" alt="[Image: 286338853_3481628415457714_7068359505215...e=62A19A61]" />]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[KHI NGƯỜI TÀI ĐỨC LÀM BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7988</link>
			<pubDate>Sun, 05 Jun 2022 16:29:42 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7988</guid>
			<description><![CDATA[Khi người tài đức làm Bộ trưởng Giáo dục, trong 4 tháng họ làm được gì?<br />
<br />
Người trong hình là giáo sư Hoàng Xuân Hãn (Cụ Hoàng Xuân Hãn (1908-1996)), nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và mỹ thuật của chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945. Thành tựu của cụ trong 4 tháng làm Bộ trưởng ngắn ngủi là làm ra cho nước ta chương trình trung học đầu tiên dạy bằng Việt ngữ. Cụ cũng là người làm ra cuốn sách các danh từ khoa học bằng tiếng Việt đầu tiên giúp người Việt có các từ này để sử dụng tới bây giờ.<br />
<br />
Cụ Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, quê làng Yên Hồ, huyện La Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thuở nhỏ cụ học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại nhà. 18 tuổi, cụ đậu bằng Thành chung, ra HN học trung học tại trường Bưởi, sau đó 19 tuổi cụ chuyển qua học Toán ở trường Lycée Albert Sarraut. Một năm sau, cụ đỗ thủ khoa tú tài toàn phần Pháp và nhận học bổng qua Pháp học. Cụ theo học tại trường Bách khoa Paris, sau đó học trường École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris). Từ năm 1934 đến năm 1936 Hoàng Xuân Hãn trở lại Pháp sau 4 tháng về nước, học và đậu cử nhân toán 1935 và thạc sĩ toán 1936 tại khoa Toán trường Đại học Sorbonne.<br />
<br />
Học cao hiểu rộng, năm 1936 cụ về nước dạy trường Bưởi, hoàn tất cuốn Danh từ khoa học đầu tiên của VN, "một công trình rất đặc sắc để “khai đường mở lối” cho nền học thuật bằng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ. Năm 1942, sách ra đời. Năm 1943, Hội Khuyến học Nam kỳ (SAMIPIC) tặng giải thưởng" (theo giáo sư Nguyễn Đình Đầu)<br />
<br />
Năm 1945, cụ được mời là Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật đầu tiên của chính phủ Trần Trọng Kim. <br />
Vừa nhậm chức, nhận thấy chương trình trung học ở ta khi đó còn dạy theo lối Pháp, giáo sư Hoàng Xuân Hãn liền họp các giáo sư trung học và yêu cầu lập chung một chương trình có tính cách hoàn toàn quốc gia Việt Nam.<br />
<br />
Cụ kể lại “Tôi tự đặt ra một số nguyên tắc mới, mà sau này chính chương trình Trung học Pháp cũng theo (như vượt lên về toán, lý, hóa, bỏ chia trung học ra hai phần….) Chính tôi đã đặt ra những từ: Phổ thông và Chuyên khoa. Nhất là như tôi đã nói, tôi thấy về văn học ta thiếu những người học sâu về cổ văn, để hiểu và dạy quốc văn nghiêm túc, và nhận văn bản đúng hay sai. Vì lẽ ấy tôi đã đặt Ban chuyên khoa cổ văn như trong các chương trình Âu châu. Trong những người có công lớn trong việc cải cách, có Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Huy Bảo, Đoàn Nồng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Nguyễn Dương Đôn… Cuối tháng 6, lần đầu mở kỳ thi trung học bằng tiếng Việt tại Huế. Những bài làm rất tốt, kể cả bài thi triết học".<br />
<br />
Chương trình trung học của Hoàng Xuân Hãn được các Bộ Giáo dục VNDCCH và VNCH áp dụng rất lâu. Mà nơi lâu nhất là VNCH dùng tới 1972. Các chương trình sau đó có cải cách nhưng vẫn nằm cơ bản trong nền tảng của chương trình này.<br />
<br />
Sau ngày chính phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm, Hoàng Xuân Hãn trở về dạy và viết sách toán bằng tiếng Việt, cùng cứu vãn những sách cũ, sách cổ bị đưa bán làm giấy lộn khắp đường phố Hà Nội. Sau 1945, ông tham gia phong trào diệt giặc dốt và nghĩ ra phương pháp học chữ Quốc ngữ rất mau, viết trong 1 cuốn sách của ông. Cuốn sách này đã giúp người mù chữ chỉ sau 3-6 tháng thì đọc thông viết thạo.<br />
<br />
Nhận xét về giáo sư Hoàng Xuân Hãn, giáo sư Nguyễn Đình Đầu viết: <br />
“Ông đã có công lớn trong việc dùng tiếng Việt và chữ Việt ở mọi cấp bậc học ở nước ta: Chúng ta không còn phải mượn tiếng người, chữ người nữa, tiếng Việt là vấn đề khỏi bàn, còn chữ Việt đây là chữ Quốc ngữ La tinh hóa. Ông đã mổ xẻ Quốc ngữ ra từng chữ i chữ tờ rồi đề nghị mở rộng cách ghi âm Quốc ngữ làm cho tiếng Việt phong phú hơn, đặc biệt về mặt khoa học.<br />
<br />
Ông rút kinh nghiệm của cả Tàu lẫn Nhật. Ông dịch các danh từ khoa học thông thường như Tàu. Ông phiên âm các danh từ khoa học chuyên môn như Nhật. Song với chữ Quốc ngữ La tinh hóa, thì việc Phiên âm các danh từ khoa học chuyên môn – mà đa số là tiếng La tinh rồi – được thuận tiện hơn tiếng Nhật và chữ Nhật nhiều. Từ dạng chữ đến cách đọc Việt Nam sẽ rất gần với cách ghi âm và phát âm quốc tế. <br />
Ông lại phục sinh nền quốc học và cho gắn liền với chương trình giáo dục. Việc đào tạo nhân cách Việt Nam phải bắt đầu bằng tiếng ta, chữ ta, văn hóa ta. Ông không chỉ sáng tạo Danh từ khoa học, chỉ đặt Chương trình Trung học, mà còn trước tác rất nhiều công trình khoa học có giá trị lớn để làm mẫu mực cho việc giáo dục và quốc học nước ta. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn có công lớn lắm vậy”.<br />
<br />
Cụ Hoàng Xuân Hãn năm 1951 quay lại Paris sinh sống và học tiếp để trở thành kỹ sư nguyên tử. Cụ tiếp tục nghiên cứu về văn hóa VN. Năm 1996, cụ mất tại Paris.<br />
<br />
Tháng 8 năm 2011, Trường Đại học Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris), một trong những đại học có uy tín hàng đầu của Pháp đã chọn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặt tên cho giảng đường đại học thuộc trường. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống Trường Cầu đường Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được Nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của Trường.<br />
<br />
Thật kính trọng tài năng và đức độ của cụ. Chỉ 4 tháng ngắn ngủi trong cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cụ đã làm được những việc vô cùng ý nghĩa cho nền giáo dục của đất nước.<br />
<br />
<br />
NGUYỄN THỊ BÍCH HẬU<br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent-dfw5-2.xx.fbcdn.net/v/t39.30808-6/284262241_7407152866025215_1567347409491920534_n.jpg?_nc_cat=109&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=xgNyQaZdL8QAX8I01sI&amp;_nc_ht=scontent-dfw5-2.xx&amp;oh=00_AT_O-iymUzKZFw1vBaA7XIL4hTQjvzhXJUo9emPQ8T5JOg&amp;oe=62A26E26" border="0" alt="[Image: 284262241_7407152866025215_1567347409491...e=62A26E26]" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Khi người tài đức làm Bộ trưởng Giáo dục, trong 4 tháng họ làm được gì?<br />
<br />
Người trong hình là giáo sư Hoàng Xuân Hãn (Cụ Hoàng Xuân Hãn (1908-1996)), nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và mỹ thuật của chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945. Thành tựu của cụ trong 4 tháng làm Bộ trưởng ngắn ngủi là làm ra cho nước ta chương trình trung học đầu tiên dạy bằng Việt ngữ. Cụ cũng là người làm ra cuốn sách các danh từ khoa học bằng tiếng Việt đầu tiên giúp người Việt có các từ này để sử dụng tới bây giờ.<br />
<br />
Cụ Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, quê làng Yên Hồ, huyện La Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thuở nhỏ cụ học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại nhà. 18 tuổi, cụ đậu bằng Thành chung, ra HN học trung học tại trường Bưởi, sau đó 19 tuổi cụ chuyển qua học Toán ở trường Lycée Albert Sarraut. Một năm sau, cụ đỗ thủ khoa tú tài toàn phần Pháp và nhận học bổng qua Pháp học. Cụ theo học tại trường Bách khoa Paris, sau đó học trường École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris). Từ năm 1934 đến năm 1936 Hoàng Xuân Hãn trở lại Pháp sau 4 tháng về nước, học và đậu cử nhân toán 1935 và thạc sĩ toán 1936 tại khoa Toán trường Đại học Sorbonne.<br />
<br />
Học cao hiểu rộng, năm 1936 cụ về nước dạy trường Bưởi, hoàn tất cuốn Danh từ khoa học đầu tiên của VN, "một công trình rất đặc sắc để “khai đường mở lối” cho nền học thuật bằng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ. Năm 1942, sách ra đời. Năm 1943, Hội Khuyến học Nam kỳ (SAMIPIC) tặng giải thưởng" (theo giáo sư Nguyễn Đình Đầu)<br />
<br />
Năm 1945, cụ được mời là Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật đầu tiên của chính phủ Trần Trọng Kim. <br />
Vừa nhậm chức, nhận thấy chương trình trung học ở ta khi đó còn dạy theo lối Pháp, giáo sư Hoàng Xuân Hãn liền họp các giáo sư trung học và yêu cầu lập chung một chương trình có tính cách hoàn toàn quốc gia Việt Nam.<br />
<br />
Cụ kể lại “Tôi tự đặt ra một số nguyên tắc mới, mà sau này chính chương trình Trung học Pháp cũng theo (như vượt lên về toán, lý, hóa, bỏ chia trung học ra hai phần….) Chính tôi đã đặt ra những từ: Phổ thông và Chuyên khoa. Nhất là như tôi đã nói, tôi thấy về văn học ta thiếu những người học sâu về cổ văn, để hiểu và dạy quốc văn nghiêm túc, và nhận văn bản đúng hay sai. Vì lẽ ấy tôi đã đặt Ban chuyên khoa cổ văn như trong các chương trình Âu châu. Trong những người có công lớn trong việc cải cách, có Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Huy Bảo, Đoàn Nồng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Nguyễn Dương Đôn… Cuối tháng 6, lần đầu mở kỳ thi trung học bằng tiếng Việt tại Huế. Những bài làm rất tốt, kể cả bài thi triết học".<br />
<br />
Chương trình trung học của Hoàng Xuân Hãn được các Bộ Giáo dục VNDCCH và VNCH áp dụng rất lâu. Mà nơi lâu nhất là VNCH dùng tới 1972. Các chương trình sau đó có cải cách nhưng vẫn nằm cơ bản trong nền tảng của chương trình này.<br />
<br />
Sau ngày chính phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm, Hoàng Xuân Hãn trở về dạy và viết sách toán bằng tiếng Việt, cùng cứu vãn những sách cũ, sách cổ bị đưa bán làm giấy lộn khắp đường phố Hà Nội. Sau 1945, ông tham gia phong trào diệt giặc dốt và nghĩ ra phương pháp học chữ Quốc ngữ rất mau, viết trong 1 cuốn sách của ông. Cuốn sách này đã giúp người mù chữ chỉ sau 3-6 tháng thì đọc thông viết thạo.<br />
<br />
Nhận xét về giáo sư Hoàng Xuân Hãn, giáo sư Nguyễn Đình Đầu viết: <br />
“Ông đã có công lớn trong việc dùng tiếng Việt và chữ Việt ở mọi cấp bậc học ở nước ta: Chúng ta không còn phải mượn tiếng người, chữ người nữa, tiếng Việt là vấn đề khỏi bàn, còn chữ Việt đây là chữ Quốc ngữ La tinh hóa. Ông đã mổ xẻ Quốc ngữ ra từng chữ i chữ tờ rồi đề nghị mở rộng cách ghi âm Quốc ngữ làm cho tiếng Việt phong phú hơn, đặc biệt về mặt khoa học.<br />
<br />
Ông rút kinh nghiệm của cả Tàu lẫn Nhật. Ông dịch các danh từ khoa học thông thường như Tàu. Ông phiên âm các danh từ khoa học chuyên môn như Nhật. Song với chữ Quốc ngữ La tinh hóa, thì việc Phiên âm các danh từ khoa học chuyên môn – mà đa số là tiếng La tinh rồi – được thuận tiện hơn tiếng Nhật và chữ Nhật nhiều. Từ dạng chữ đến cách đọc Việt Nam sẽ rất gần với cách ghi âm và phát âm quốc tế. <br />
Ông lại phục sinh nền quốc học và cho gắn liền với chương trình giáo dục. Việc đào tạo nhân cách Việt Nam phải bắt đầu bằng tiếng ta, chữ ta, văn hóa ta. Ông không chỉ sáng tạo Danh từ khoa học, chỉ đặt Chương trình Trung học, mà còn trước tác rất nhiều công trình khoa học có giá trị lớn để làm mẫu mực cho việc giáo dục và quốc học nước ta. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn có công lớn lắm vậy”.<br />
<br />
Cụ Hoàng Xuân Hãn năm 1951 quay lại Paris sinh sống và học tiếp để trở thành kỹ sư nguyên tử. Cụ tiếp tục nghiên cứu về văn hóa VN. Năm 1996, cụ mất tại Paris.<br />
<br />
Tháng 8 năm 2011, Trường Đại học Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris), một trong những đại học có uy tín hàng đầu của Pháp đã chọn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặt tên cho giảng đường đại học thuộc trường. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống Trường Cầu đường Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được Nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của Trường.<br />
<br />
Thật kính trọng tài năng và đức độ của cụ. Chỉ 4 tháng ngắn ngủi trong cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cụ đã làm được những việc vô cùng ý nghĩa cho nền giáo dục của đất nước.<br />
<br />
<br />
NGUYỄN THỊ BÍCH HẬU<br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent-dfw5-2.xx.fbcdn.net/v/t39.30808-6/284262241_7407152866025215_1567347409491920534_n.jpg?_nc_cat=109&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=xgNyQaZdL8QAX8I01sI&amp;_nc_ht=scontent-dfw5-2.xx&amp;oh=00_AT_O-iymUzKZFw1vBaA7XIL4hTQjvzhXJUo9emPQ8T5JOg&amp;oe=62A26E26" border="0" alt="[Image: 284262241_7407152866025215_1567347409491...e=62A26E26]" />]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[LÀM THINH - Tiểu Tử]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7985</link>
			<pubDate>Sat, 04 Jun 2022 14:55:50 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7985</guid>
			<description><![CDATA[Cái làng nhỏ đó nằm gần biển Manche, cách thành phố Etretat (miền bắc nước Pháp) độ 10 km. Trong làng có chừng năm chục nóc gia nằm chùm nhum lại thành một khu, trừ một cái nhà nằm rời xa một mình về phía biển. Người trong làng gọi cái nhà đó là "nhà ông Lê” .<br />
<br />
Cách đây mấy năm, ông Lê – người Việt Nam độ 40 tuổi – từ Paris ra đây mua lại cái nhà đó để làm nhà nghỉ mát. Mùa hè và các ngày lễ lớn, ông đưa vợ con – vợ người Pháp và hai con trai chín mười tuổi – ra đây đổi gió và lâu lâu ông cho bạn bè mượn năm bảy hôm. Ông có mướn một người trong làng – tên Jean Marie – trông nom nhà cửa và cắt tỉa vườn tược cây trái.<br />
<br />
Mới đầu, người trong làng cứ tưởng ông Lê là người Tàu. Cho nên, họ hơi dè dặt. Chừng biết ổng là người Việt Nam, họ cởi mở hơn, thân thiện hơn. Làm như, đối với họ, người Tàu là người ngoại quốc xa lạ, còn người Việt Nam thì ít nhiều gì cũng đã từng được xem là người…trong nhà ! Họ càng có cảm tình với ông Lê khi biết rằng ổng qua Pháp học từ hồi mười lăm tuổi, rằng ổng tốt nghiệp trường Arts et Métiers, rằng ổng làm chức lớn trong cơ quan Nhà Nước .v.v…Họ hay nói với nhau: "Vợ chồng ông Lê thật dễ thương".<br />
<br />
Vùng này cao hơn mặt biển hai ba chục thước mà cuộc đất lại không lài lài xuống lần khi ra gần biển như ở những nơi khác, nên không có bãi. Ở đây, biển đâm thẳng vô bờ, loại bờ đá dựng thiên nhiên sừng sững như một bức tường cao thật cao. Những ngày biển động, sóng đập vào chân tường đá nghe ầm ầm.Vì nhà ông Lê nằm cách bờ đá dựng không xa, nên vào những ngày đó, từ trong nhà nghe âm vang tiếng sóng giống như những tiếng thở dài… <br />
Hè năm đó, ông Lê và gia đình ra đây nghỉ mát chỉ có ba tuần thay vì một tháng như thường lệ. Ông nói với ông Jean Marie – người quản gia – rằng phải trở về Paris để đón cha mẹ từ Việt Nam qua. Ông Jean Marie hỏi ông có định đưa ông bà cụ ra đây chơi không thì ông Lê trả lời rằng không, bởi vì ông bà cụ mới xuất ngoại lần đầu tiên nên phải đợi một thời gian cho quen với khí hậu phong thổ.<br />
<br />
Vậy mà chỉ mươi ngày sau, thấy ông Lê chở ra đây một ông già tóc trắng với hai va-ly hành trang. Người quản gia nghĩ:<br />
"Chắc định ở lâu nên mới mang hành trang nhiều như vậy". <br />
<br />
Ông Lê giới thiệu:<br />
"Đây là cha tôi. Còn đây là Jean Marie, quản gia".<br />
<br />
Sau đó, ông nói:<br />
"Trong thời gian cha tôi ở đây, tôi xin nhờ bà Jean Marie lo dùm việc nấu nướng giặt giũ giống như những lúc gia đình tôi ra đây nghỉ mát. Có điều là cha tôi không thể đi chợ ở Etretat như chúng tôi vẫn làm lâu nay, nên tôi nhờ ông bà lo giùm luôn vụ này. Đổi lại, tôi sẽ tăng tiền thù lao của hai ông bà lên mười phần trăm. Tôi xin ông bà chấp nhận cho". <br />
<br />
Sau khi gọi điện thoại về nhà bàn tính với vợ, ông Jean Marie bằng lòng. Tiếp theo đó, ông Lê trao cho ông Jean Marie một số tiền và nói:<br />
"Đây, tôi gởi ông bà một tháng tiền chợ. Tôi dự trù dư dả phòng khi cha tôi cần mua những gì khác, nhưng nếu thấy thiếu thì điện thoại cho tôi hay để tôi gởi ra thêm. Mỗi cuối tháng, tôi sẽ gởi tiền để gối đầu cho tháng kế tiếp, ông bà yên tâm". <br />
<br />
Ông Jean Marie hỏi:<br />
"Còn bà cụ đâu ? Sao không cùng ra đây với ông cụ ?".<br />
<br />
Ông Lê trả lời như không trả lời:<br />
"Mẹ tôi ở Paris".<br />
<br />
Rồi sau khi nói mấy lời cám ơn ông Jean Marie, ông bắt tay từ giả người quản gia và ông già tóc trắng để trở về Paris, vội vã như không muốn vấn vương gì nữa ! Thấy ông Lê đối xử với ông già tóc bạc như là một người quen thường, ông Jean Marie vừa ngạc nhiên vừa bất nhẫn, bởi vì ông nhận thấy rõ ràng ông già tóc bạc đó và ông Lê thật sự giống nhau như hai cha con…<br />
<br />
Ông già ở trong nhà ông Lê như một cái bóng. Ông không xem tê-lê, không nghe ra-đi-ô. Ông cứ ngồi ở xa lông hút thuốc liên miên, mắt nhìn thẳng ra cửa kiếng hướng về phía biển, giống như đang coi một cái gì ở ngoài đó. Ở ngoài đó không có gì hết ! Không có một cái cây, không có một lùm bụi. Cỏ dại cũng không mọc cao. Mặt đất trống trơn chạy thẳng ra bờ đá dựng. Từ chỗ ông ngồi, nhìn ra chỉ thấy đất và trời. Lâu lâu, vài con hải âu bay phớt ngang, và lâu lâu trên nền trời trong xanh của mùa hè, một sợi mây đi lạc…Chỉ có bao nhiêu đó, vậy mà ông cứ ngồi nhìn, nhìn đăm đăm… <br />
<br />
Mới đầu, ông bà Jean Marie cứ tưởng rằng ông già không biết nói tiếng Pháp. Nhưng sau mấy lần hỏi han thấy ông trả lời trôi chảy mạch lạc, ông bà mới yên tâm. Có điều là hỏi thì ông mới trả lời chớ không thấy bao giờ tự ông gợi chuyện. Suốt ngày, ông làm thinh. Cần dùng gì thì ông viết ít chữ rồi gắn trên mặt tủ lạnh. Ông bà Jean Marie thấy vậy cũng ráng giữ ý không làm tiếng động khi quét dọn hay đi ra đi vào. Nhiều khi, họ có cảm tưởng như trong nhà không có ai hết ! Chỉ có mùi khói thuốc là nhắc đến sự hiện diện của ông già… <br />
<br />
Ông già đó tên Lê Tư. Hồi thời trước – cái thời mà miền nam Việt Nam chưa biết mùi cộng sản – ông Tư là một nhà thầu xây cất rất có bề thế ở Sàigòn. Ông giao du rộng, lại "biết cách giao du", thêm giỏi tính toán sắp xếp nên ông trúng thầu nhiều công trình lớn của nhà nuớc và của các công ty ngoại quốc. Do đó, càng ngày ông càng nổi tiếng và sự nghiệp thì cứ nhân lên gấp năm gấp mười. Dù vậy, ông không bao giờ chối bỏ cái gốc hàn vi của ông và rất tự hào đã bắt đầu bằng hai bàn tay trắng.<br />
<br />
Ông thường nói:<br />
"Hồi tôi từ Đà Nẳng vô Sàigòn, tôi chỉ có một chiếc xe đạp cũ và cái nghề thợ hồ. Ban ngày đạp xe đi làm, ban đêm đạp xe đi học thêm ở Trung Tâm Văn Hoá Pháp và hội Việt Mỹ. Hồi thời đó, quanh năm suốt tháng, tôi chỉ biết có thắt lưng buộc bụng, ăn uống kham khổ, để dành tiền gởi về cho cha mẹ ở Đà Nẳng và để đóng các học phí. Vậy mà tôi vẫn không ngã lòng. Lúc nào trong đầu tôi cũng nghĩ rằng phải cố gắng vươn lên, bởi vì không ai giúp mình bằng mình hết. Nhờ vậy mà bảy tám năm sau, tôi đã có một cơ sở vững chắc để cạnh tranh với các nhà thầu khác. Rồi thì xây cất hết công trình này đến công trình khác, có khi hai ba công trình cùng một lúc, cơ sở cứ lớn lần lớn lần để trở thành bề thế như ngày hôm nay. Nghe tôi nói tôi bắt đầu sự nghiệp bằng con số không chẳng có mấy ai tin hết ". <br />
<br />
Khi đã khá giả, ông mới cưới vợ. Ông hay nói đùa:<br />
"Tình phải có tiền đi theo nó mới vững. Giống như bê-tông phải có cốt sắt nó mới bền !". <br />
<br />
Ông bà Lê Tư chỉ sanh có một người con trai đặt tên Lê Tuấn. Năm Tuấn được mười lăm tuổi, ông gởi con qua Pháp học. Ông muốn nó học ngành kiều lộ để sau này trở về nối nghiệp ông. Ông nói :<br />
"Việt Nam mình cạnh tranh không nổi với hãng thầu ngoại quốc bởi vì mình có binh mà thiếu tướng ". <br />
<br />
Và ông hy vọng trong tương lai, con ông sẽ thực hiện những công trình vĩ đại, vượt trội hẳn những gì ông đã làm. Để cho ông được nở mặt. <br />
Cái tương lai đó bỗng tắt ngúm chỉ trong một thời gian ngắn sau ngày 30 tháng tư, 1975… <br />
<br />
Trước cái ngày đen tối đó, một người như ông Lê Tư dư sức để di tản dễ dàng. Vậy mà không thấy ông nhúc nhích. Ông cứ điềm nhiên hút thuốc, uống trà, xem truyền hình, nghe ra-đi-ô. Giống như một kẻ bàng quan. Bà Lê Tư thì cứ đi ra đi vô, hết gọi điện thoại cho bà bạn này đến gọi cho bà bạn khác. Rồi thúc giục ông đi di tản. Bà nói : <br />
- Trời ơi ! Mấy bả đi hết rồi kìa ! <br />
<br />
Ông cười : <br />
- Thì ai sợ cứ đi. Bà yên tâm. Tôi bảo đảm không có sao hết. Nói thiệt với bà, "họ" đã liên lạc với tôi cách đây hơn tháng, nói rõ rằng họ cần dùng những người như tôi để xây dựng lại đất nước. Cho nên, bà thấy tôi không ? Tôi bình chân như vại ! <br />
<br />
Điều mà ông không nói cho bà biết là từ bao lâu nay, ông vẫn đều đặn gởi tiền giúp cách mạng qua ngả thằng cháu – cũng gốc liên khu năm như ông – đang hoạt động ở mấy tỉnh miền Đông. Chính người cháu đó đã cho người về gặp ông để giải thích rõ ràng chủ trương đường lối của cách mạng. Nhờ vậy, ông mới vững tâm tin tưởng.<br />
<br />
Đâu dè, sau khi cách mạng "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", cách mạng quay về đánh tư sản. Ông Lê Tư cũng "bị" mời đi "làm việc" như mọi người. Ông có xuất trình giấy chứng minh của liên khu bảy, là vùng ông đã giúp đỡ, nhưng lá "bùa" đó không linh ! Ông cũng có nghĩ đến thằng cháu cách mạng, nhưng bây giờ ông không biết nó ở đâu để gọi nó đến làm chứng. Vì vậy, ông vẫn bị mời tới mời lui để "làm việc". Mỗi lần làm việc, họ quay ông như…con dế ! Đến nỗi về sau, mệt mỏi quá, chán chường quá, thấy nói gì cũng vô ích, nên ông bèn làm thinh, mặc cho họ muốn nói gì thì nói, hỏi gì thì hỏi. Rồi đến lần "làm việc" cuối cùng , ông cũng làm thinh ký tên trên xấp giấy tờ họ đưa ra, ông ký mà không thèm đọc qua một chữ ! Lần đó, ông bước ra khỏi cơ quan, có cảm tưởng như đang sống trong một thế giới khác, một thế giới…lộn ngược ! Ông không còn khái niệm không gian thời gian. Ông chỉ biết rằng sau cái phút ký tên đó, ông trắng tay. Và ông còn nghe trong đầu câu nói ơn nghĩa "nhờ ông đã sớm giác ngộ cách mạng nên không phải đi cải tạo". Ông lái xe về nhà như một người máy. Ông đâu biết rằng trong cuộc "đổi đời vĩ đại" này, con người đâu còn sống bằng lý trí: con người chỉ sống bằng bản năng thôi ! <br />
<br />
Về đến trước cổng nhà, bỗng nhiên ông Lê Tư nhận thức rằng tất cả những gì trực thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ đang đợi ông ở nhà…<br />
Xưa nay, mọi việc trong gia đình đều do ông quyết định. Bà Lê Tư luôn luôn làm theo ý của ông, không bao giờ thắc mắc. Bởi vì bà hoàn toàn tin tưởng vào người chồng mà lúc nào bà cũng cảm phục như một thần tượng. Bà nói:<br />
"Từ bàn tay trắng dựng nên sự nghiệp đồ sộ như vầy, không phải ai làm cũng được !".<br />
<br />
Và bà thường ví chồng bà như một cây cau vững chắc để bà bám vào đó như một giây trầu…Vậy mà bây giờ…bây giờ…Ông Lê Tư không biết ví mình như cái gì nữa. Cách mạng mà ông đã giúp từ ngày ông dựng nghiệp, hôm nay nhân danh gì gì đó, đã biến ông thành con số không. Dễ dàng như người ta cầm nùi giẻ bôi hết những hàng chữ phấn trên một bảng đen, bôi mà không cần biết những hàng chữ đó viết những gì ! Chỉ trong có một khoảnh khắc, ông chẳng còn gì hết và bản thân ông cũng không là gì hết ! Ông đã trở thành một "thứ gì" đó không có tên, một sản phẩm của cách mạng mà sách vở xưa nay chưa thấy có định nghĩa ! <br />
<br />
Ông bước vào nhà mà cảm thấy mình lêu bêu như bọt nước, không làm chủ được gì hết, kể cả làm chủ chính bản thân mình ! Cái biệt thự có hồ tắm vườn hoa, có năm ngăn bảy nắp, mà ngày xưa ông đã xây cất cho tương xứng với địa vị xã hội của ông…bây giờ bỗng trở nên ngạo nghễ, vô duyên.<br />
Nhà vắng teo. Một số gia nhân đã xin nghỉ việc từ những ngày sôi động, số còn lại đã được cho nghỉ ngay sau ngày 30 tháng tư. Bà Lê Tư chắc đang làm gì ở dải nhà sau nên ông không nghe tiếng động. Ông đốt điếu thuốc rồi ngồi xuống phô-tơi nhìn thẳng ra vườn. Ông nhìn mà không thấy gì hết ! Yên lặng… <br />
<br />
Tiếng bà Lê Tư làm ông giựt mình : <br />
- Sao ông ? Họ đòi gì nữa vậy ? <br />
- Họ đâu có đòi. Họ lấy. <br />
- Lấy gì ? <br />
- Lấy hết tài sản của mình.<br />
<br />
Giọng bà bỗng cao lên một nấc : <br />
- Lấy hết tài sản ? <br />
Ông nhìn bà rồi trả lời bằng cái gật đầu. Giọng của bà lại cao thêm một nấc : <br />
- Gì lạ vậy ? Tự nhiên rồi đòi lấy tài sản của người ta. Đó là ăn cướp chớ đâu phải lấy ! Rồi ông trả lời làm sao ? <br />
Ông thở mấy hơi thuốc, rồi mới nói : <br />
- Thì tôi giao hết lại cho họ chớ còn làm sao ? <br />
- Bà chỉ kêu lên được một tiếng "Trời" rồi ngồi phịch xuống ghế, mắt nhìn thẳng ra vườn. Bà nhìn mà cũng không thấy gì hết ! Yên lặng… <br />
Một lúc sau, ông nói, giọng thật trầm tĩnh : <br />
- Bà nghĩ coi. Bây giờ họ là kẻ chiến thắng. Quyền sanh sát nằm hết trong tay, họ muốn nói gì làm gì mà không được. <br />
- Còn luật pháp để đâu ? <br />
- Luật pháp của ai ? <br />
Bà làm thinh. Một lúc sau, bà nói : <br />
- Hôm trước ông nói họ đã móc nối với ông để ông ở lại giúp họ xây dựng gì gì đó. Sao bây giờ họ lột hết của ông vậy ? <br />
Ông làm thinh. Khói thuốc trong miệng bỗng trở nên thật đắng. Ông nghe thèm một hớp trà hay một hớp nước lạnh, hay bất cứ một chất lỏng nào cũng được…để ông nuốt xuống "cái gì đó" đang nghẹn ngang ở cổ. Ông dụi điếu thuốc rồi đi lại bar ở góc xa-lông rót một ly nhỏ Porto uống ực một cái, giống như người ta bị mắc xương. Xong ông trở lại phô-tơi ngồi xuống, đốt điếu thuốc. Chất rượu đang nồng trên mũi, nhưng sao khói thuốc vẫn còn nghe thật đắng ! <br />
<br />
Giọng bà Lê Tư có vẻ trách móc : <br />
- Chớ phải ông nghe lời tôi đi di tản như thiên hạ thì đâu có sao. <br />
- Đi di tản cũng mất hết chớ hơn gì. <br />
- Sao mất hết được ? Ông quen lớn nhiều mà không hốt được một mớ đem đi theo à ? Có nhiều người còn gởi được bàn ghế và vô số đồ cổ nữa. Như anh X., như anh T., như ông tướng Z…toàn là bạn thân của ông không. <br />
<br />
Ông làm thinh. Bà vẫn nói, càng nói giọng càng gay gắt : <br />
- Thà rằng mình đi, cái gì không đem theo được là mình bỏ. Tụi nó có lấy, cũng là lấy những gì mình bỏ. Chớ còn bây giờ, tụi nó bóp họng ông để lấy, bộ ông không thấy tức sao ? <br />
<br />
Ông làm thinh. Ngừng một lúc như để suy nghĩ, rồi bà nói một câu giống như bà đóng sập cánh cửa sắt để nhốt ông trong một nhà tù: <br />
- Chẳng bằng ông muốn ở lại để giúp cách mạng chớ gì ? Phải không ? <br />
<br />
Ông nuốt nước miếng mấy lần, rồi tiếp tục làm thinh. Bây giờ, ông thật sự thấy mình như bọt nước trôi lêu bêu, không bám được vào đâu hết… <br />
Chiều bữa đó, cách mạng đưa đến mười mấy thanh niên trai gái và một toán bảo vệ cầm súng để làm công tác kiểm kê. Họ bắt mở hết các hộc, các kệ, các tủ…để họ đem ra đếm từng món, không bỏ sót một nơi nào hết, một món nào hết. Đêm, họ ngủ lại trong nhà ông Lê Tư để sáng sớm hôm sau họ tiếp tục. Xong công tác kiểm kê, người cán bộ chỉ huy chỉ định một nhóm bốn người ở lại để canh giữ những gì đã kiểm kê, sợ ông bà Lê Tư…ăn cắp mang đi ! Gã còn nói như ra lịnh : <br />
- Từ hôm nay trở đi, anh chị phải dọn ra nhà sau để ở, không được bước lên đây nữa. Anh chị cũng không được quyền sử dụng chiếc ô-tô bây giờ thuộc diện quản lý của Nhà Nước. Khi ra vào nhà, anh chị phải dùng cái cổng hậu, không được đi bằng cổng chánh. Rõ chớ ? <br />
<br />
Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư cũng làm thinh. Nhưng hai sự làm thinh đó không cùng một ý nghĩa: ông làm thinh vì biết rằng có nói gì cũng vô ích còn bà làm thinh là vì bà hận ông vô cùng ! <br />
...Từ ngày dọn xuống ở trong một nhà phụ – có ba dãy nhà phụ trước đây dùng cho gia nhân – và từ ngày biết rằng văn phòng, các kho vật liệu, kho dụng cụ cơ giới, biệt thự ở Núi Lớn Vũng Tàu, các chương mục ở ngân hàng…v.v. đã hoàn toàn nằm trong tay Nhà Nước, bà Lê Tư ít nói chuyện với ông. Nhưng hầu như ngày nào bà cũng ngồi nói một mình, nói trổng, cố tình nói lớn tiếng để cho ông "phải" nghe. Bà cứ lải nhải với giọng trách móc chanh chua, hết chuyện tin lời cách mạng, đến chuyện mất hết của cải, rồi bắt qua chuyện di tản, chuyện ở "chui rúc" trong nhà của bếp của bồi…Còn ông thì cứ làm thinh ngồi nghe, nghe riết mà tóc của ông càng ngày càng bạc trắng ! <br />
<br />
Thời gian đi qua…Một hôm bà bỗng nói với ông : <br />
- Tôi đã nhờ người quen trong toà đại sứ liên lạc được với thằng Tuấn ở Paris. Nó sẽ lo giấy tờ cho mình qua bển. <br />
Bây giờ, mọi sự đều do bà quyết định, ông chỉ làm thinh đi theo. Bây giờ, người chồng " thần tượng" của thời trước chỉ còn là một cái bóng ! Bây giờ, bà mới là thân cây cau, còn ông , ông chỉ là một thứ dây trầu...Đúng là một sự "đổi đời vĩ đại" ! <br />
<br />
Ít lâu sau, chính bà đã chạy chọt đút lót để có xuất cảnh cho hai vợ chồng bay qua Paris, vào giữa mùa hè năm đó. <br />
…Ông Lê, người con trai của ông bà Lê Tư, đến đón ông bà ở phi trường Charles De Gaulle. Gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi. Ông Lê Tư có cảm tưởng như mình vừa sống lại. Ông ôm con siết mạnh, rồi buông ra để nhìn. Lòng tràn sung sướng, ông vừa cung tay đấm nhẹ lên vai con, vừa chửi đổng :<br />
"Cha mày !".<br />
Rồi tiếp :<br />
"Ba tưởng không còn gặp lại con nữa chớ !"<br />
<br />
Trong một khoảnh khắc, ông tìm lại được lời nói và cử chỉ của một con người bình thường, con người của thời trước tháng Tư 1975… <br />
Trên đường về nhà, ông Lê vừa lái xe vừa hỏi về những chuyện đã xảy ra ở Việt Nam trong những ngày sôi động của tháng Tư, nhứt là ở đoạn "mấy thằng Mỹ kéo nhau chạy sút quần". Nghe lời nói và giọng điệu của con, ông Lê Tư cảm thấy có "cái gì không ổn", nhưng ông nghĩ :<br />
"Có lẽ tại nó ở bên nây lâu quá nên nó nói tiếng Việt không biết chọn lời". <br />
<br />
Rồi ông kể lại những điều mắt thấy tai nghe. Người con lâu lâu khoái chí, vỗ tay lên tay lái, gục gặc đầu :<br />
"Cho tụi nó chết!" <br />
Bỗng người con hỏi: <br />
- "Còn mấy thằng tướng ngụy ?" <br />
Câu hỏi đó như một ánh sáng bật lên trong bóng tối để ông nhìn thấy rõ sự thật: không phải con ông không nói rành tiếng Việt mà là con ông nghiêng về phía bên kia, cái phía đã lật lọng, ăn cháo đá bát, cái phía đã lấy hết tài sản của ông một cách ngang nhiên trắng trợn! Trời đất chung quanh bỗng như sụp xuống! Tuy nhiên ông vẫn trả lời: <br />
- "Mấy người đó thì ba không biết". <br />
- "Tụi nó chạy ra đảo Guam hết. Thằng chủ chạy thì thằng tớ phải chạy theo chớ dám ở lại đâu. Tưởng ba biết gì kể lại nghe chơi chớ ở bên nây báo chí tê-lê nói đầy đủ. Trên tê-lê thấy nhiều thằng tướng ngơ ngác như bầy gà nuốt giây thun! "<br />
<br />
Người con nói xong cười lên khoái trá. Ông Lê Tư nghe giận phừng lên mặt! Ông đưa tay định xáng cho thằng con một cái, nhưng ông kềm lại kịp. Ông bỏ tay xuống mà nghe ngực mình tức ran. Tự nhiên, ông ứa nước mắt. Từ phút đó, ông làm thinh. Thấy như vậy, tưởng cha bị mệt vì cuộc hành trình quá dài nên ông Lê cũng không hỏi tiếp. <br />
<br />
Bà Lê Tư ngồi ở băng sau, không chen vô một lời. Bà cảm thấy rồi đây sẽ không thể nào ở chung với một thằng con như vậy được. Bà đã tưởng đi ra khỏi xứ để khỏi phải thấy hằng ngày những chuyện trái tai gai mắt, nào ngờ qua đây gặp thằng con không biết học ở đâu mà ăn nói giống "tụi nó" y chang ! Nhưng không sao. Rồi bà sẽ mua nhà ở riêng. Bà dư sức. Với số hột xoàn mà bà đã cất giấu sau 1975 và bây giờ đang nằm an toàn trong cái giỏ mây hai đáy bà ôm trong lòng, bà dư sức. Cho dù bà phải cưu mang suốt phần đời còn lại ông chồng mà bà đã không còn coi là thần tượng nữa, từ lâu… <br />
Về đến nhà – ở Neuilly Sur Seine, khu nhà giàu – ông Lê giới thiệu vợ con rồi đưa cha mẹ lên phòng trên lầu, nói : <br />
- "Ba má nghỉ một chút rồi xuống ăn trưa". <br />
<br />
Bữa ăn được dọn lên từng món theo phong cách tây phương. Vợ ông Lê hỏi han lễ độ và kín đáo chăm sóc ông bà Lê Tư. Hai thằng con ông Lê – giống mẹ hơn giống cha nên ít thấy lai Việt – không biết một tiếng Việt. Chúng ăn nhanh nhanh. Xong món thứ nhì, chúng không đợi món kế tiếp, vội vã rút lên phòng. Suốt bữa ăn, câu chuyện chỉ vây quanh mấy món ăn nấu theo tây, bởi vì ông Lê khoe có bà bếp giỏi. Bà bếp, người Pháp, có bước ra chào ông bà Lê Tư…<br />
<br />
Nhờ vậy, không khí trong bữa ăn không đến nỗi nào tẻ lạnh. <br />
Sau bữa ăn, vợ ông Lê vì tế nhị, muốn để cho chồng và cha mẹ nói chuyện riêng với nhau, nên xin phép lên lầu. Bà dặn chồng : <br />
-"Anh không nên nói chuyện nhiều. Ba má chắc cần phải ngủ vì sai giờ giấc. Mình còn nhiều thì giờ mà… "<br />
Khi bước qua xa lông để uống cà phê, ông Lê hỏi : <br />
-"Ba má định qua đây ở chơi bao lâu ? "<br />
Ông Lê Tư chau mày, nhìn bà. Bà trả lời : <br />
-"Ba má định qua ở luôn chớ đâu phải ở chơi". <br />
Người con ngạc nhiên : <br />
-" Ủa ? Sao lại ở luôn ? Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên đầu trên cổ mình hết. Tất cả đều thuộc về mình, không còn sợ thằng ác ôn nào cướp giựt nữa. Như vậy mà ba má định bỏ xứ qua đây ở luôn. Thiệt là vô lý !"<br />
<br />
Hồi nãy, trên xe về đây, ông Lê Tư còn nghĩ rằng thằng con ông chỉ nghiêng về phía bên kia. Bây giờ thì quá rõ ràng : nó đã đứng hẳn về phía bên đó. Ông nghe lòng quặn thắt: chẳng những cách mạng đã cướp hết tài sản của ông, mà tụi nó còn cướp luôn thằng con duy nhứt của ông, cướp từ hồi nào rồi… <br />
Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư hơi mất bình tĩnh: <br />
-" Tại con không biết. Tụi nó lấy hết tài sản của ba má rồi còn đuổi xuống ở căn nhà của bồi, rồi lại bắt không được đi cổng chánh phải đi cổng hậu. Bây giờ tụi nó sợ mình không chấp hành chỉ thị nên kéo kẽm gai cô lập căn nhà ba má ở. Con nghĩ coi sống làm sao?" <br />
-" Buổi đầu lúc nào chẳng có chuyện sai sót. Rồi cách mạng sẽ trả lại hết cho ba má, yên tâm đi ! Điều mà con muốn nói là chưa chi mà ba má đã muốn bỏ xứ ra đi giống như bè lũ đĩ điếm trộm cắp tháo chạy mấy ngày...làm con thấy không hãnh diện chút nào hết !" <br />
<br />
Câu nói chưa dứt, ông Lê Tư đã đứng phắt dậy, làm thinh đi thẳng lên lầu. Bà Lê Tư cũng nối gót, nhưng bước chân bà nặng chình chịch. Đứa con máu mủ mà bà mới ôm hun thắm thiết hồi nãy trên phi trường, bây giờ bỗng giống như người xa lạ. Bà cảm thấy hụt hẫng đến độ bà không biết phải làm gì, nói gì. Đến giữa cầu thang, kềm không được, bà ôm mặt khóc tức tưởi… <br />
<br />
Suốt buổi chiều, ông Lê Tư ngồi trong phòng làm thinh hút thuốc. Ông không nghe buồn ngủ, ông chỉ nghe mệt – thật mệt – và chán chường – thật chán chường. Ông bắt gặp lại tâm trạng của ông vào những ngày cuối cùng của thời ông bị cách mạng quay hằng bữa để ông kê khai tài sản một cách "đầy đủ và trung thực" ! <br />
<br />
Bà Lê Tư cũng không ngủ. Bà điện thoại để liên lạc mấy bà bạn đã định cư ở Pháp, nhứt là ở vùng phụ cận Paris. Rồi bà hẹn hò sung sướng như thấy chân trời đang mở rộng. <br />
Sau bữa ăn tối, đợi bà Lê và hai con lên lầu, bà Lê Tư nói : <br />
-" Chị bác sĩ A sáng mai lại rước má về nhà chỉ chơi vài bữa. Sau đó, có lẽ sẽ qua nhà bà dược sĩ L . Ở đây, má có nhiều bạn bè lắm, con đừng lo cho má. Con chỉ cần lo cho ba thôi." <br />
Ông Lê Tư nhìn thẳng mặt con, giọng nghiêm trang : <br />
-"Ba nói thật: ba với con không hạp nhau. Ba không thể ở chung với con được. Ba xin con cho ba ở một nơi nào khác, ở một mình cũng không sao." <br />
Ông nói "xin con cho ba", đó là sự thật. Bởi vì bây giờ ông hoàn toàn trắng tay. Xưa nay, tiền dư ra, ông cho bà một phần để mua hột xoàn, còn bao nhiêu ông chuyển hết qua chương mục của người con… <br />
<br />
Ông Lê ngồi làm thinh, không biết ông đang nghĩ gì. Cũng là làm thinh, nhưng sự làm thinh của ông khó hiểu hơn sự làm thinh của ông bà Lê Tư ! <br />
Vậy rồi sáng hôm sau, bà bác sĩ A lái xe lại rước bà Lê Tư. Tiếp theo là ông Lê chở người cha ra ở cái nhà nghỉ mát ở gần bờ đá dựng. Suốt cuộc hành trình dài mấy tiếng đồng hồ, hai cha con không nói với nhau một lời ! <br />
<br />
Từ ngày ra đây ở, ông Lê Tư cảm thấy cuộc đời mình như đang đi vào một ngõ bí. Không sống được với cách mạng, đã đành. Còn lại bà vợ thì bây giờ bả coi mình như cục bứu trên lưng. Rồi đến thằng con, đối với mình, nó còn lạ hơn người xa lạ ! Cứ nghĩ quẩn nghĩ quanh như vậy hết ngày này qua ngày khác mà con người ông sa sút thấy rõ. Bây giờ, ông ốm nhom. Đi đứng đã phải chống ba-toon và đêm đêm cứ phải nằm trằn trọc tới khuya lơ mới dỗ được giấc ngủ. Thấy tội nghiệp, ông bà Jean Marie hay thừa dịp đưa nước trà hay cà phê để ngồi lại gợi chuyện vẩn vơ. Họ cũng ngạc nhiên tự hỏi sao không thấy ai gọi điện thoại hỏi thăm ông già này hết. Làm như ông không có mặt trong cuộc đời này…Cho nên họ tận tình chăm sóc ông từng chút. Đến nỗi, về đêm, bà Jean Marie thường đợi ông lên giường nằm đàng hoàng mới tắt đèn đóng cửa đi về nhà ! Ông Lê Tư rất cảm kích nên lâu lâu ông phá lệ làm thinh để nói hai tiếng "cám ơn", nhẹ như hơi thở…<br />
<br />
Một hôm, ông Lê Tư bỗng thèm nhìn mặt biển, cái biển mà từ hôm ra đây – đã gần hai tháng – ông chỉ nghe tiếng của nó rì rào ngoài kia thôi. Ông bèn chống ba-toon bước từng bước run run đi lần ra hướng đó. Cứ đi vài bước là ông phải dừng lại một lúc để thở, nhưng ông vẫn cố bước đi… <br />
<br />
Bây giờ thì ông đã đứng trên mép bờ đá dựng. Dưới chân ông, rất sâu phía dưới, là biển. Biển xanh dờn, kéo dài ra chân trời. Trời nước mênh mông. Gió muối và mùi thơm thơm của rong rêu nhắc ông nhớ cái biệt thự ở mỏm núi lớn Vũng Tàu. Ông đã xây cất biệt thự đó để làm nơi tiếp tân nên có một sân gạch thật rộng hướng về phía biển. Ông hay đứng ở đó nhìn chân trời như ông đang đứng nhìn chân trời bây giờ. Cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang. Hồi đó, lúc nào ông cũng thấy chân trời đang mở rộng cho ông, cái hồi mà ông làm chuyện gì cũng thành đạt. Bây giờ, cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang nhưng sao ông không thấy nó mở rộng cho ông một chút nào hết ! Ông chỉ thấy toàn là bế tắc. Chân trời là đường chấm dứt một cái gì: trời cao nghiêng xuống đến đó là hết, biển rộng vươn dài đến đó cũng là hết ! Giống như cuộc đời của ông bây giờ... Của cải: hết ! Vợ con: hết ! Sức khoẻ của ông rồi cũng sẽ hết ! Hết ! Hết ! <br />
<br />
Bỗng, ông Lê Tư liệng mạnh cây ba-toon xuống biển, giống như ông dứt khoát không cần dùng đến nó nữa. Rồi ông hít một hơi dài, nhắm mắt bước thẳng vào khoảng không trước mặt, giống như bước qua một lằn ranh tưởng tượng. <br />
Từ bây giờ, ông Lê Tư làm thinh vĩnh viễn… <br />
<br />
Chiều hôm đó, ông Jean Marie gọi điện thoại về Paris. Không có người bắt máy, nhưng có máy nhắn tin nên ông nhắn: "A lô ! Tôi là Jean Marie. Tôi xin báo tin buồn: ông cụ đã từ trần. Ông đi dạo gần tường đá dựng chẳng may rơi xuống biển. Nhà chức trách đã vớt được xác đem về nhà xác bịnh viện Etretat. Yêu cầu ông bà ra gấp. Vợ chồng tôi xin chia buồn. Thành thật chia buồn…" <br />
Không biết, khi hay tin, vợ con ông có nhỏ cho ông một giọt nước mắt?<br />
<br />
truyện ngắn: tiểu tử<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/286175824_1153495551885374_5518169404021081251_n.jpg?_nc_cat=108&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=5cd70e&amp;_nc_ohc=v9Jcf4KqleAAX9r7wHW&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT_-34XgHWBvL9ZP0i_FbYsllzfzZ-dDqVB-bmsAHJu8MQ&amp;oe=62A1394C" border="0" alt="[Image: 286175824_1153495551885374_5518169404021...e=62A1394C]" /><br />
ảnh: mỏm đá Étretat]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Cái làng nhỏ đó nằm gần biển Manche, cách thành phố Etretat (miền bắc nước Pháp) độ 10 km. Trong làng có chừng năm chục nóc gia nằm chùm nhum lại thành một khu, trừ một cái nhà nằm rời xa một mình về phía biển. Người trong làng gọi cái nhà đó là "nhà ông Lê” .<br />
<br />
Cách đây mấy năm, ông Lê – người Việt Nam độ 40 tuổi – từ Paris ra đây mua lại cái nhà đó để làm nhà nghỉ mát. Mùa hè và các ngày lễ lớn, ông đưa vợ con – vợ người Pháp và hai con trai chín mười tuổi – ra đây đổi gió và lâu lâu ông cho bạn bè mượn năm bảy hôm. Ông có mướn một người trong làng – tên Jean Marie – trông nom nhà cửa và cắt tỉa vườn tược cây trái.<br />
<br />
Mới đầu, người trong làng cứ tưởng ông Lê là người Tàu. Cho nên, họ hơi dè dặt. Chừng biết ổng là người Việt Nam, họ cởi mở hơn, thân thiện hơn. Làm như, đối với họ, người Tàu là người ngoại quốc xa lạ, còn người Việt Nam thì ít nhiều gì cũng đã từng được xem là người…trong nhà ! Họ càng có cảm tình với ông Lê khi biết rằng ổng qua Pháp học từ hồi mười lăm tuổi, rằng ổng tốt nghiệp trường Arts et Métiers, rằng ổng làm chức lớn trong cơ quan Nhà Nước .v.v…Họ hay nói với nhau: "Vợ chồng ông Lê thật dễ thương".<br />
<br />
Vùng này cao hơn mặt biển hai ba chục thước mà cuộc đất lại không lài lài xuống lần khi ra gần biển như ở những nơi khác, nên không có bãi. Ở đây, biển đâm thẳng vô bờ, loại bờ đá dựng thiên nhiên sừng sững như một bức tường cao thật cao. Những ngày biển động, sóng đập vào chân tường đá nghe ầm ầm.Vì nhà ông Lê nằm cách bờ đá dựng không xa, nên vào những ngày đó, từ trong nhà nghe âm vang tiếng sóng giống như những tiếng thở dài… <br />
Hè năm đó, ông Lê và gia đình ra đây nghỉ mát chỉ có ba tuần thay vì một tháng như thường lệ. Ông nói với ông Jean Marie – người quản gia – rằng phải trở về Paris để đón cha mẹ từ Việt Nam qua. Ông Jean Marie hỏi ông có định đưa ông bà cụ ra đây chơi không thì ông Lê trả lời rằng không, bởi vì ông bà cụ mới xuất ngoại lần đầu tiên nên phải đợi một thời gian cho quen với khí hậu phong thổ.<br />
<br />
Vậy mà chỉ mươi ngày sau, thấy ông Lê chở ra đây một ông già tóc trắng với hai va-ly hành trang. Người quản gia nghĩ:<br />
"Chắc định ở lâu nên mới mang hành trang nhiều như vậy". <br />
<br />
Ông Lê giới thiệu:<br />
"Đây là cha tôi. Còn đây là Jean Marie, quản gia".<br />
<br />
Sau đó, ông nói:<br />
"Trong thời gian cha tôi ở đây, tôi xin nhờ bà Jean Marie lo dùm việc nấu nướng giặt giũ giống như những lúc gia đình tôi ra đây nghỉ mát. Có điều là cha tôi không thể đi chợ ở Etretat như chúng tôi vẫn làm lâu nay, nên tôi nhờ ông bà lo giùm luôn vụ này. Đổi lại, tôi sẽ tăng tiền thù lao của hai ông bà lên mười phần trăm. Tôi xin ông bà chấp nhận cho". <br />
<br />
Sau khi gọi điện thoại về nhà bàn tính với vợ, ông Jean Marie bằng lòng. Tiếp theo đó, ông Lê trao cho ông Jean Marie một số tiền và nói:<br />
"Đây, tôi gởi ông bà một tháng tiền chợ. Tôi dự trù dư dả phòng khi cha tôi cần mua những gì khác, nhưng nếu thấy thiếu thì điện thoại cho tôi hay để tôi gởi ra thêm. Mỗi cuối tháng, tôi sẽ gởi tiền để gối đầu cho tháng kế tiếp, ông bà yên tâm". <br />
<br />
Ông Jean Marie hỏi:<br />
"Còn bà cụ đâu ? Sao không cùng ra đây với ông cụ ?".<br />
<br />
Ông Lê trả lời như không trả lời:<br />
"Mẹ tôi ở Paris".<br />
<br />
Rồi sau khi nói mấy lời cám ơn ông Jean Marie, ông bắt tay từ giả người quản gia và ông già tóc trắng để trở về Paris, vội vã như không muốn vấn vương gì nữa ! Thấy ông Lê đối xử với ông già tóc bạc như là một người quen thường, ông Jean Marie vừa ngạc nhiên vừa bất nhẫn, bởi vì ông nhận thấy rõ ràng ông già tóc bạc đó và ông Lê thật sự giống nhau như hai cha con…<br />
<br />
Ông già ở trong nhà ông Lê như một cái bóng. Ông không xem tê-lê, không nghe ra-đi-ô. Ông cứ ngồi ở xa lông hút thuốc liên miên, mắt nhìn thẳng ra cửa kiếng hướng về phía biển, giống như đang coi một cái gì ở ngoài đó. Ở ngoài đó không có gì hết ! Không có một cái cây, không có một lùm bụi. Cỏ dại cũng không mọc cao. Mặt đất trống trơn chạy thẳng ra bờ đá dựng. Từ chỗ ông ngồi, nhìn ra chỉ thấy đất và trời. Lâu lâu, vài con hải âu bay phớt ngang, và lâu lâu trên nền trời trong xanh của mùa hè, một sợi mây đi lạc…Chỉ có bao nhiêu đó, vậy mà ông cứ ngồi nhìn, nhìn đăm đăm… <br />
<br />
Mới đầu, ông bà Jean Marie cứ tưởng rằng ông già không biết nói tiếng Pháp. Nhưng sau mấy lần hỏi han thấy ông trả lời trôi chảy mạch lạc, ông bà mới yên tâm. Có điều là hỏi thì ông mới trả lời chớ không thấy bao giờ tự ông gợi chuyện. Suốt ngày, ông làm thinh. Cần dùng gì thì ông viết ít chữ rồi gắn trên mặt tủ lạnh. Ông bà Jean Marie thấy vậy cũng ráng giữ ý không làm tiếng động khi quét dọn hay đi ra đi vào. Nhiều khi, họ có cảm tưởng như trong nhà không có ai hết ! Chỉ có mùi khói thuốc là nhắc đến sự hiện diện của ông già… <br />
<br />
Ông già đó tên Lê Tư. Hồi thời trước – cái thời mà miền nam Việt Nam chưa biết mùi cộng sản – ông Tư là một nhà thầu xây cất rất có bề thế ở Sàigòn. Ông giao du rộng, lại "biết cách giao du", thêm giỏi tính toán sắp xếp nên ông trúng thầu nhiều công trình lớn của nhà nuớc và của các công ty ngoại quốc. Do đó, càng ngày ông càng nổi tiếng và sự nghiệp thì cứ nhân lên gấp năm gấp mười. Dù vậy, ông không bao giờ chối bỏ cái gốc hàn vi của ông và rất tự hào đã bắt đầu bằng hai bàn tay trắng.<br />
<br />
Ông thường nói:<br />
"Hồi tôi từ Đà Nẳng vô Sàigòn, tôi chỉ có một chiếc xe đạp cũ và cái nghề thợ hồ. Ban ngày đạp xe đi làm, ban đêm đạp xe đi học thêm ở Trung Tâm Văn Hoá Pháp và hội Việt Mỹ. Hồi thời đó, quanh năm suốt tháng, tôi chỉ biết có thắt lưng buộc bụng, ăn uống kham khổ, để dành tiền gởi về cho cha mẹ ở Đà Nẳng và để đóng các học phí. Vậy mà tôi vẫn không ngã lòng. Lúc nào trong đầu tôi cũng nghĩ rằng phải cố gắng vươn lên, bởi vì không ai giúp mình bằng mình hết. Nhờ vậy mà bảy tám năm sau, tôi đã có một cơ sở vững chắc để cạnh tranh với các nhà thầu khác. Rồi thì xây cất hết công trình này đến công trình khác, có khi hai ba công trình cùng một lúc, cơ sở cứ lớn lần lớn lần để trở thành bề thế như ngày hôm nay. Nghe tôi nói tôi bắt đầu sự nghiệp bằng con số không chẳng có mấy ai tin hết ". <br />
<br />
Khi đã khá giả, ông mới cưới vợ. Ông hay nói đùa:<br />
"Tình phải có tiền đi theo nó mới vững. Giống như bê-tông phải có cốt sắt nó mới bền !". <br />
<br />
Ông bà Lê Tư chỉ sanh có một người con trai đặt tên Lê Tuấn. Năm Tuấn được mười lăm tuổi, ông gởi con qua Pháp học. Ông muốn nó học ngành kiều lộ để sau này trở về nối nghiệp ông. Ông nói :<br />
"Việt Nam mình cạnh tranh không nổi với hãng thầu ngoại quốc bởi vì mình có binh mà thiếu tướng ". <br />
<br />
Và ông hy vọng trong tương lai, con ông sẽ thực hiện những công trình vĩ đại, vượt trội hẳn những gì ông đã làm. Để cho ông được nở mặt. <br />
Cái tương lai đó bỗng tắt ngúm chỉ trong một thời gian ngắn sau ngày 30 tháng tư, 1975… <br />
<br />
Trước cái ngày đen tối đó, một người như ông Lê Tư dư sức để di tản dễ dàng. Vậy mà không thấy ông nhúc nhích. Ông cứ điềm nhiên hút thuốc, uống trà, xem truyền hình, nghe ra-đi-ô. Giống như một kẻ bàng quan. Bà Lê Tư thì cứ đi ra đi vô, hết gọi điện thoại cho bà bạn này đến gọi cho bà bạn khác. Rồi thúc giục ông đi di tản. Bà nói : <br />
- Trời ơi ! Mấy bả đi hết rồi kìa ! <br />
<br />
Ông cười : <br />
- Thì ai sợ cứ đi. Bà yên tâm. Tôi bảo đảm không có sao hết. Nói thiệt với bà, "họ" đã liên lạc với tôi cách đây hơn tháng, nói rõ rằng họ cần dùng những người như tôi để xây dựng lại đất nước. Cho nên, bà thấy tôi không ? Tôi bình chân như vại ! <br />
<br />
Điều mà ông không nói cho bà biết là từ bao lâu nay, ông vẫn đều đặn gởi tiền giúp cách mạng qua ngả thằng cháu – cũng gốc liên khu năm như ông – đang hoạt động ở mấy tỉnh miền Đông. Chính người cháu đó đã cho người về gặp ông để giải thích rõ ràng chủ trương đường lối của cách mạng. Nhờ vậy, ông mới vững tâm tin tưởng.<br />
<br />
Đâu dè, sau khi cách mạng "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", cách mạng quay về đánh tư sản. Ông Lê Tư cũng "bị" mời đi "làm việc" như mọi người. Ông có xuất trình giấy chứng minh của liên khu bảy, là vùng ông đã giúp đỡ, nhưng lá "bùa" đó không linh ! Ông cũng có nghĩ đến thằng cháu cách mạng, nhưng bây giờ ông không biết nó ở đâu để gọi nó đến làm chứng. Vì vậy, ông vẫn bị mời tới mời lui để "làm việc". Mỗi lần làm việc, họ quay ông như…con dế ! Đến nỗi về sau, mệt mỏi quá, chán chường quá, thấy nói gì cũng vô ích, nên ông bèn làm thinh, mặc cho họ muốn nói gì thì nói, hỏi gì thì hỏi. Rồi đến lần "làm việc" cuối cùng , ông cũng làm thinh ký tên trên xấp giấy tờ họ đưa ra, ông ký mà không thèm đọc qua một chữ ! Lần đó, ông bước ra khỏi cơ quan, có cảm tưởng như đang sống trong một thế giới khác, một thế giới…lộn ngược ! Ông không còn khái niệm không gian thời gian. Ông chỉ biết rằng sau cái phút ký tên đó, ông trắng tay. Và ông còn nghe trong đầu câu nói ơn nghĩa "nhờ ông đã sớm giác ngộ cách mạng nên không phải đi cải tạo". Ông lái xe về nhà như một người máy. Ông đâu biết rằng trong cuộc "đổi đời vĩ đại" này, con người đâu còn sống bằng lý trí: con người chỉ sống bằng bản năng thôi ! <br />
<br />
Về đến trước cổng nhà, bỗng nhiên ông Lê Tư nhận thức rằng tất cả những gì trực thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ đang đợi ông ở nhà…<br />
Xưa nay, mọi việc trong gia đình đều do ông quyết định. Bà Lê Tư luôn luôn làm theo ý của ông, không bao giờ thắc mắc. Bởi vì bà hoàn toàn tin tưởng vào người chồng mà lúc nào bà cũng cảm phục như một thần tượng. Bà nói:<br />
"Từ bàn tay trắng dựng nên sự nghiệp đồ sộ như vầy, không phải ai làm cũng được !".<br />
<br />
Và bà thường ví chồng bà như một cây cau vững chắc để bà bám vào đó như một giây trầu…Vậy mà bây giờ…bây giờ…Ông Lê Tư không biết ví mình như cái gì nữa. Cách mạng mà ông đã giúp từ ngày ông dựng nghiệp, hôm nay nhân danh gì gì đó, đã biến ông thành con số không. Dễ dàng như người ta cầm nùi giẻ bôi hết những hàng chữ phấn trên một bảng đen, bôi mà không cần biết những hàng chữ đó viết những gì ! Chỉ trong có một khoảnh khắc, ông chẳng còn gì hết và bản thân ông cũng không là gì hết ! Ông đã trở thành một "thứ gì" đó không có tên, một sản phẩm của cách mạng mà sách vở xưa nay chưa thấy có định nghĩa ! <br />
<br />
Ông bước vào nhà mà cảm thấy mình lêu bêu như bọt nước, không làm chủ được gì hết, kể cả làm chủ chính bản thân mình ! Cái biệt thự có hồ tắm vườn hoa, có năm ngăn bảy nắp, mà ngày xưa ông đã xây cất cho tương xứng với địa vị xã hội của ông…bây giờ bỗng trở nên ngạo nghễ, vô duyên.<br />
Nhà vắng teo. Một số gia nhân đã xin nghỉ việc từ những ngày sôi động, số còn lại đã được cho nghỉ ngay sau ngày 30 tháng tư. Bà Lê Tư chắc đang làm gì ở dải nhà sau nên ông không nghe tiếng động. Ông đốt điếu thuốc rồi ngồi xuống phô-tơi nhìn thẳng ra vườn. Ông nhìn mà không thấy gì hết ! Yên lặng… <br />
<br />
Tiếng bà Lê Tư làm ông giựt mình : <br />
- Sao ông ? Họ đòi gì nữa vậy ? <br />
- Họ đâu có đòi. Họ lấy. <br />
- Lấy gì ? <br />
- Lấy hết tài sản của mình.<br />
<br />
Giọng bà bỗng cao lên một nấc : <br />
- Lấy hết tài sản ? <br />
Ông nhìn bà rồi trả lời bằng cái gật đầu. Giọng của bà lại cao thêm một nấc : <br />
- Gì lạ vậy ? Tự nhiên rồi đòi lấy tài sản của người ta. Đó là ăn cướp chớ đâu phải lấy ! Rồi ông trả lời làm sao ? <br />
Ông thở mấy hơi thuốc, rồi mới nói : <br />
- Thì tôi giao hết lại cho họ chớ còn làm sao ? <br />
- Bà chỉ kêu lên được một tiếng "Trời" rồi ngồi phịch xuống ghế, mắt nhìn thẳng ra vườn. Bà nhìn mà cũng không thấy gì hết ! Yên lặng… <br />
Một lúc sau, ông nói, giọng thật trầm tĩnh : <br />
- Bà nghĩ coi. Bây giờ họ là kẻ chiến thắng. Quyền sanh sát nằm hết trong tay, họ muốn nói gì làm gì mà không được. <br />
- Còn luật pháp để đâu ? <br />
- Luật pháp của ai ? <br />
Bà làm thinh. Một lúc sau, bà nói : <br />
- Hôm trước ông nói họ đã móc nối với ông để ông ở lại giúp họ xây dựng gì gì đó. Sao bây giờ họ lột hết của ông vậy ? <br />
Ông làm thinh. Khói thuốc trong miệng bỗng trở nên thật đắng. Ông nghe thèm một hớp trà hay một hớp nước lạnh, hay bất cứ một chất lỏng nào cũng được…để ông nuốt xuống "cái gì đó" đang nghẹn ngang ở cổ. Ông dụi điếu thuốc rồi đi lại bar ở góc xa-lông rót một ly nhỏ Porto uống ực một cái, giống như người ta bị mắc xương. Xong ông trở lại phô-tơi ngồi xuống, đốt điếu thuốc. Chất rượu đang nồng trên mũi, nhưng sao khói thuốc vẫn còn nghe thật đắng ! <br />
<br />
Giọng bà Lê Tư có vẻ trách móc : <br />
- Chớ phải ông nghe lời tôi đi di tản như thiên hạ thì đâu có sao. <br />
- Đi di tản cũng mất hết chớ hơn gì. <br />
- Sao mất hết được ? Ông quen lớn nhiều mà không hốt được một mớ đem đi theo à ? Có nhiều người còn gởi được bàn ghế và vô số đồ cổ nữa. Như anh X., như anh T., như ông tướng Z…toàn là bạn thân của ông không. <br />
<br />
Ông làm thinh. Bà vẫn nói, càng nói giọng càng gay gắt : <br />
- Thà rằng mình đi, cái gì không đem theo được là mình bỏ. Tụi nó có lấy, cũng là lấy những gì mình bỏ. Chớ còn bây giờ, tụi nó bóp họng ông để lấy, bộ ông không thấy tức sao ? <br />
<br />
Ông làm thinh. Ngừng một lúc như để suy nghĩ, rồi bà nói một câu giống như bà đóng sập cánh cửa sắt để nhốt ông trong một nhà tù: <br />
- Chẳng bằng ông muốn ở lại để giúp cách mạng chớ gì ? Phải không ? <br />
<br />
Ông nuốt nước miếng mấy lần, rồi tiếp tục làm thinh. Bây giờ, ông thật sự thấy mình như bọt nước trôi lêu bêu, không bám được vào đâu hết… <br />
Chiều bữa đó, cách mạng đưa đến mười mấy thanh niên trai gái và một toán bảo vệ cầm súng để làm công tác kiểm kê. Họ bắt mở hết các hộc, các kệ, các tủ…để họ đem ra đếm từng món, không bỏ sót một nơi nào hết, một món nào hết. Đêm, họ ngủ lại trong nhà ông Lê Tư để sáng sớm hôm sau họ tiếp tục. Xong công tác kiểm kê, người cán bộ chỉ huy chỉ định một nhóm bốn người ở lại để canh giữ những gì đã kiểm kê, sợ ông bà Lê Tư…ăn cắp mang đi ! Gã còn nói như ra lịnh : <br />
- Từ hôm nay trở đi, anh chị phải dọn ra nhà sau để ở, không được bước lên đây nữa. Anh chị cũng không được quyền sử dụng chiếc ô-tô bây giờ thuộc diện quản lý của Nhà Nước. Khi ra vào nhà, anh chị phải dùng cái cổng hậu, không được đi bằng cổng chánh. Rõ chớ ? <br />
<br />
Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư cũng làm thinh. Nhưng hai sự làm thinh đó không cùng một ý nghĩa: ông làm thinh vì biết rằng có nói gì cũng vô ích còn bà làm thinh là vì bà hận ông vô cùng ! <br />
...Từ ngày dọn xuống ở trong một nhà phụ – có ba dãy nhà phụ trước đây dùng cho gia nhân – và từ ngày biết rằng văn phòng, các kho vật liệu, kho dụng cụ cơ giới, biệt thự ở Núi Lớn Vũng Tàu, các chương mục ở ngân hàng…v.v. đã hoàn toàn nằm trong tay Nhà Nước, bà Lê Tư ít nói chuyện với ông. Nhưng hầu như ngày nào bà cũng ngồi nói một mình, nói trổng, cố tình nói lớn tiếng để cho ông "phải" nghe. Bà cứ lải nhải với giọng trách móc chanh chua, hết chuyện tin lời cách mạng, đến chuyện mất hết của cải, rồi bắt qua chuyện di tản, chuyện ở "chui rúc" trong nhà của bếp của bồi…Còn ông thì cứ làm thinh ngồi nghe, nghe riết mà tóc của ông càng ngày càng bạc trắng ! <br />
<br />
Thời gian đi qua…Một hôm bà bỗng nói với ông : <br />
- Tôi đã nhờ người quen trong toà đại sứ liên lạc được với thằng Tuấn ở Paris. Nó sẽ lo giấy tờ cho mình qua bển. <br />
Bây giờ, mọi sự đều do bà quyết định, ông chỉ làm thinh đi theo. Bây giờ, người chồng " thần tượng" của thời trước chỉ còn là một cái bóng ! Bây giờ, bà mới là thân cây cau, còn ông , ông chỉ là một thứ dây trầu...Đúng là một sự "đổi đời vĩ đại" ! <br />
<br />
Ít lâu sau, chính bà đã chạy chọt đút lót để có xuất cảnh cho hai vợ chồng bay qua Paris, vào giữa mùa hè năm đó. <br />
…Ông Lê, người con trai của ông bà Lê Tư, đến đón ông bà ở phi trường Charles De Gaulle. Gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi. Ông Lê Tư có cảm tưởng như mình vừa sống lại. Ông ôm con siết mạnh, rồi buông ra để nhìn. Lòng tràn sung sướng, ông vừa cung tay đấm nhẹ lên vai con, vừa chửi đổng :<br />
"Cha mày !".<br />
Rồi tiếp :<br />
"Ba tưởng không còn gặp lại con nữa chớ !"<br />
<br />
Trong một khoảnh khắc, ông tìm lại được lời nói và cử chỉ của một con người bình thường, con người của thời trước tháng Tư 1975… <br />
Trên đường về nhà, ông Lê vừa lái xe vừa hỏi về những chuyện đã xảy ra ở Việt Nam trong những ngày sôi động của tháng Tư, nhứt là ở đoạn "mấy thằng Mỹ kéo nhau chạy sút quần". Nghe lời nói và giọng điệu của con, ông Lê Tư cảm thấy có "cái gì không ổn", nhưng ông nghĩ :<br />
"Có lẽ tại nó ở bên nây lâu quá nên nó nói tiếng Việt không biết chọn lời". <br />
<br />
Rồi ông kể lại những điều mắt thấy tai nghe. Người con lâu lâu khoái chí, vỗ tay lên tay lái, gục gặc đầu :<br />
"Cho tụi nó chết!" <br />
Bỗng người con hỏi: <br />
- "Còn mấy thằng tướng ngụy ?" <br />
Câu hỏi đó như một ánh sáng bật lên trong bóng tối để ông nhìn thấy rõ sự thật: không phải con ông không nói rành tiếng Việt mà là con ông nghiêng về phía bên kia, cái phía đã lật lọng, ăn cháo đá bát, cái phía đã lấy hết tài sản của ông một cách ngang nhiên trắng trợn! Trời đất chung quanh bỗng như sụp xuống! Tuy nhiên ông vẫn trả lời: <br />
- "Mấy người đó thì ba không biết". <br />
- "Tụi nó chạy ra đảo Guam hết. Thằng chủ chạy thì thằng tớ phải chạy theo chớ dám ở lại đâu. Tưởng ba biết gì kể lại nghe chơi chớ ở bên nây báo chí tê-lê nói đầy đủ. Trên tê-lê thấy nhiều thằng tướng ngơ ngác như bầy gà nuốt giây thun! "<br />
<br />
Người con nói xong cười lên khoái trá. Ông Lê Tư nghe giận phừng lên mặt! Ông đưa tay định xáng cho thằng con một cái, nhưng ông kềm lại kịp. Ông bỏ tay xuống mà nghe ngực mình tức ran. Tự nhiên, ông ứa nước mắt. Từ phút đó, ông làm thinh. Thấy như vậy, tưởng cha bị mệt vì cuộc hành trình quá dài nên ông Lê cũng không hỏi tiếp. <br />
<br />
Bà Lê Tư ngồi ở băng sau, không chen vô một lời. Bà cảm thấy rồi đây sẽ không thể nào ở chung với một thằng con như vậy được. Bà đã tưởng đi ra khỏi xứ để khỏi phải thấy hằng ngày những chuyện trái tai gai mắt, nào ngờ qua đây gặp thằng con không biết học ở đâu mà ăn nói giống "tụi nó" y chang ! Nhưng không sao. Rồi bà sẽ mua nhà ở riêng. Bà dư sức. Với số hột xoàn mà bà đã cất giấu sau 1975 và bây giờ đang nằm an toàn trong cái giỏ mây hai đáy bà ôm trong lòng, bà dư sức. Cho dù bà phải cưu mang suốt phần đời còn lại ông chồng mà bà đã không còn coi là thần tượng nữa, từ lâu… <br />
Về đến nhà – ở Neuilly Sur Seine, khu nhà giàu – ông Lê giới thiệu vợ con rồi đưa cha mẹ lên phòng trên lầu, nói : <br />
- "Ba má nghỉ một chút rồi xuống ăn trưa". <br />
<br />
Bữa ăn được dọn lên từng món theo phong cách tây phương. Vợ ông Lê hỏi han lễ độ và kín đáo chăm sóc ông bà Lê Tư. Hai thằng con ông Lê – giống mẹ hơn giống cha nên ít thấy lai Việt – không biết một tiếng Việt. Chúng ăn nhanh nhanh. Xong món thứ nhì, chúng không đợi món kế tiếp, vội vã rút lên phòng. Suốt bữa ăn, câu chuyện chỉ vây quanh mấy món ăn nấu theo tây, bởi vì ông Lê khoe có bà bếp giỏi. Bà bếp, người Pháp, có bước ra chào ông bà Lê Tư…<br />
<br />
Nhờ vậy, không khí trong bữa ăn không đến nỗi nào tẻ lạnh. <br />
Sau bữa ăn, vợ ông Lê vì tế nhị, muốn để cho chồng và cha mẹ nói chuyện riêng với nhau, nên xin phép lên lầu. Bà dặn chồng : <br />
-"Anh không nên nói chuyện nhiều. Ba má chắc cần phải ngủ vì sai giờ giấc. Mình còn nhiều thì giờ mà… "<br />
Khi bước qua xa lông để uống cà phê, ông Lê hỏi : <br />
-"Ba má định qua đây ở chơi bao lâu ? "<br />
Ông Lê Tư chau mày, nhìn bà. Bà trả lời : <br />
-"Ba má định qua ở luôn chớ đâu phải ở chơi". <br />
Người con ngạc nhiên : <br />
-" Ủa ? Sao lại ở luôn ? Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên đầu trên cổ mình hết. Tất cả đều thuộc về mình, không còn sợ thằng ác ôn nào cướp giựt nữa. Như vậy mà ba má định bỏ xứ qua đây ở luôn. Thiệt là vô lý !"<br />
<br />
Hồi nãy, trên xe về đây, ông Lê Tư còn nghĩ rằng thằng con ông chỉ nghiêng về phía bên kia. Bây giờ thì quá rõ ràng : nó đã đứng hẳn về phía bên đó. Ông nghe lòng quặn thắt: chẳng những cách mạng đã cướp hết tài sản của ông, mà tụi nó còn cướp luôn thằng con duy nhứt của ông, cướp từ hồi nào rồi… <br />
Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư hơi mất bình tĩnh: <br />
-" Tại con không biết. Tụi nó lấy hết tài sản của ba má rồi còn đuổi xuống ở căn nhà của bồi, rồi lại bắt không được đi cổng chánh phải đi cổng hậu. Bây giờ tụi nó sợ mình không chấp hành chỉ thị nên kéo kẽm gai cô lập căn nhà ba má ở. Con nghĩ coi sống làm sao?" <br />
-" Buổi đầu lúc nào chẳng có chuyện sai sót. Rồi cách mạng sẽ trả lại hết cho ba má, yên tâm đi ! Điều mà con muốn nói là chưa chi mà ba má đã muốn bỏ xứ ra đi giống như bè lũ đĩ điếm trộm cắp tháo chạy mấy ngày...làm con thấy không hãnh diện chút nào hết !" <br />
<br />
Câu nói chưa dứt, ông Lê Tư đã đứng phắt dậy, làm thinh đi thẳng lên lầu. Bà Lê Tư cũng nối gót, nhưng bước chân bà nặng chình chịch. Đứa con máu mủ mà bà mới ôm hun thắm thiết hồi nãy trên phi trường, bây giờ bỗng giống như người xa lạ. Bà cảm thấy hụt hẫng đến độ bà không biết phải làm gì, nói gì. Đến giữa cầu thang, kềm không được, bà ôm mặt khóc tức tưởi… <br />
<br />
Suốt buổi chiều, ông Lê Tư ngồi trong phòng làm thinh hút thuốc. Ông không nghe buồn ngủ, ông chỉ nghe mệt – thật mệt – và chán chường – thật chán chường. Ông bắt gặp lại tâm trạng của ông vào những ngày cuối cùng của thời ông bị cách mạng quay hằng bữa để ông kê khai tài sản một cách "đầy đủ và trung thực" ! <br />
<br />
Bà Lê Tư cũng không ngủ. Bà điện thoại để liên lạc mấy bà bạn đã định cư ở Pháp, nhứt là ở vùng phụ cận Paris. Rồi bà hẹn hò sung sướng như thấy chân trời đang mở rộng. <br />
Sau bữa ăn tối, đợi bà Lê và hai con lên lầu, bà Lê Tư nói : <br />
-" Chị bác sĩ A sáng mai lại rước má về nhà chỉ chơi vài bữa. Sau đó, có lẽ sẽ qua nhà bà dược sĩ L . Ở đây, má có nhiều bạn bè lắm, con đừng lo cho má. Con chỉ cần lo cho ba thôi." <br />
Ông Lê Tư nhìn thẳng mặt con, giọng nghiêm trang : <br />
-"Ba nói thật: ba với con không hạp nhau. Ba không thể ở chung với con được. Ba xin con cho ba ở một nơi nào khác, ở một mình cũng không sao." <br />
Ông nói "xin con cho ba", đó là sự thật. Bởi vì bây giờ ông hoàn toàn trắng tay. Xưa nay, tiền dư ra, ông cho bà một phần để mua hột xoàn, còn bao nhiêu ông chuyển hết qua chương mục của người con… <br />
<br />
Ông Lê ngồi làm thinh, không biết ông đang nghĩ gì. Cũng là làm thinh, nhưng sự làm thinh của ông khó hiểu hơn sự làm thinh của ông bà Lê Tư ! <br />
Vậy rồi sáng hôm sau, bà bác sĩ A lái xe lại rước bà Lê Tư. Tiếp theo là ông Lê chở người cha ra ở cái nhà nghỉ mát ở gần bờ đá dựng. Suốt cuộc hành trình dài mấy tiếng đồng hồ, hai cha con không nói với nhau một lời ! <br />
<br />
Từ ngày ra đây ở, ông Lê Tư cảm thấy cuộc đời mình như đang đi vào một ngõ bí. Không sống được với cách mạng, đã đành. Còn lại bà vợ thì bây giờ bả coi mình như cục bứu trên lưng. Rồi đến thằng con, đối với mình, nó còn lạ hơn người xa lạ ! Cứ nghĩ quẩn nghĩ quanh như vậy hết ngày này qua ngày khác mà con người ông sa sút thấy rõ. Bây giờ, ông ốm nhom. Đi đứng đã phải chống ba-toon và đêm đêm cứ phải nằm trằn trọc tới khuya lơ mới dỗ được giấc ngủ. Thấy tội nghiệp, ông bà Jean Marie hay thừa dịp đưa nước trà hay cà phê để ngồi lại gợi chuyện vẩn vơ. Họ cũng ngạc nhiên tự hỏi sao không thấy ai gọi điện thoại hỏi thăm ông già này hết. Làm như ông không có mặt trong cuộc đời này…Cho nên họ tận tình chăm sóc ông từng chút. Đến nỗi, về đêm, bà Jean Marie thường đợi ông lên giường nằm đàng hoàng mới tắt đèn đóng cửa đi về nhà ! Ông Lê Tư rất cảm kích nên lâu lâu ông phá lệ làm thinh để nói hai tiếng "cám ơn", nhẹ như hơi thở…<br />
<br />
Một hôm, ông Lê Tư bỗng thèm nhìn mặt biển, cái biển mà từ hôm ra đây – đã gần hai tháng – ông chỉ nghe tiếng của nó rì rào ngoài kia thôi. Ông bèn chống ba-toon bước từng bước run run đi lần ra hướng đó. Cứ đi vài bước là ông phải dừng lại một lúc để thở, nhưng ông vẫn cố bước đi… <br />
<br />
Bây giờ thì ông đã đứng trên mép bờ đá dựng. Dưới chân ông, rất sâu phía dưới, là biển. Biển xanh dờn, kéo dài ra chân trời. Trời nước mênh mông. Gió muối và mùi thơm thơm của rong rêu nhắc ông nhớ cái biệt thự ở mỏm núi lớn Vũng Tàu. Ông đã xây cất biệt thự đó để làm nơi tiếp tân nên có một sân gạch thật rộng hướng về phía biển. Ông hay đứng ở đó nhìn chân trời như ông đang đứng nhìn chân trời bây giờ. Cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang. Hồi đó, lúc nào ông cũng thấy chân trời đang mở rộng cho ông, cái hồi mà ông làm chuyện gì cũng thành đạt. Bây giờ, cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang nhưng sao ông không thấy nó mở rộng cho ông một chút nào hết ! Ông chỉ thấy toàn là bế tắc. Chân trời là đường chấm dứt một cái gì: trời cao nghiêng xuống đến đó là hết, biển rộng vươn dài đến đó cũng là hết ! Giống như cuộc đời của ông bây giờ... Của cải: hết ! Vợ con: hết ! Sức khoẻ của ông rồi cũng sẽ hết ! Hết ! Hết ! <br />
<br />
Bỗng, ông Lê Tư liệng mạnh cây ba-toon xuống biển, giống như ông dứt khoát không cần dùng đến nó nữa. Rồi ông hít một hơi dài, nhắm mắt bước thẳng vào khoảng không trước mặt, giống như bước qua một lằn ranh tưởng tượng. <br />
Từ bây giờ, ông Lê Tư làm thinh vĩnh viễn… <br />
<br />
Chiều hôm đó, ông Jean Marie gọi điện thoại về Paris. Không có người bắt máy, nhưng có máy nhắn tin nên ông nhắn: "A lô ! Tôi là Jean Marie. Tôi xin báo tin buồn: ông cụ đã từ trần. Ông đi dạo gần tường đá dựng chẳng may rơi xuống biển. Nhà chức trách đã vớt được xác đem về nhà xác bịnh viện Etretat. Yêu cầu ông bà ra gấp. Vợ chồng tôi xin chia buồn. Thành thật chia buồn…" <br />
Không biết, khi hay tin, vợ con ông có nhỏ cho ông một giọt nước mắt?<br />
<br />
truyện ngắn: tiểu tử<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/286175824_1153495551885374_5518169404021081251_n.jpg?_nc_cat=108&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=5cd70e&amp;_nc_ohc=v9Jcf4KqleAAX9r7wHW&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT_-34XgHWBvL9ZP0i_FbYsllzfzZ-dDqVB-bmsAHJu8MQ&amp;oe=62A1394C" border="0" alt="[Image: 286175824_1153495551885374_5518169404021...e=62A1394C]" /><br />
ảnh: mỏm đá Étretat]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Meet The Man Personalizing Caskets ....]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7982</link>
			<pubDate>Wed, 01 Jun 2022 04:01:48 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7982</guid>
			<description><![CDATA[<a href="https://www.facebook.com/rena.hernandez.165685/posts/pfbid0mCt5XyGE9QT7D5rQRXGZBqt36k6q3CCD138qiesxb3VBS8HkwxkjUL8rjbJTmFaYl" target="_blank">https://www.facebook.com/rena.hernandez....rjbJTmFaYl</a><br />
<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Meet The Man Personalizing Caskets For The Children Killed In The Uvalde School Shooting</span><span style="font-family: inherit;">Custom casket-maker Trey Ganem is among the professionals providing funeral services to the victims’ families free of charge.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">It’s an enormous task for a small town with its limited local resources to memorialize 21 people back-to-back, and the charge becomes even more daunting when 19 of them are children.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">The race to supply caskets for 19 children began when Ganem, of SoulShine Industries, responded to messages on Facebook and a few calls from people in the death care industry, including one from someone at the Texas Funeral Directors Association asking for help.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">[/font]<br />
[font=inherit]But smaller caskets are rarely stocked in bulk. So Ganem, who is based in Edna, Texas, near the Gulf Coast, had to order them from a manufacturer in Griffin, Georgia, potentially jeopardizing on-time deliveries for grieving families whose funeral services would start within a week.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Ganem said the manufacturer worked for 20 hours straight to get the orders out on time. Then his close friend Bubba Hoffman hired a Texas trucking company to make the 26-hour trip from Texas to Georgia and then back to Texas. When the delivery arrived at 2 a.m. Friday, Ganem and his son Billy Ganem worked nonstop, getting only a couple of hours of sleep. </span><br />
<span style="font-family: inherit;">The father and son usually manage the shop alone, but Trey Ganem said as many as a dozen people volunteered to help, some of whom traveled to Edna from as far as Corpus Christi, Texas, to help paint, sand, and apply vinyl to the child-size caskets.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">By Saturday, the crew was making the three-and-a-half-hour drive to Uvalde from Edna to donate eight completed caskets. Ganem expects to deliver the remaining caskets Sunday. In all, he prepared 19 caskets for Uvalde victims: 18 of the 19 children and one adult<img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/tf3/1.5/16/2764.png" border="0" alt="[Image: 2764.png]" /><img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/tf3/1.5/16/2764.png" border="0" alt="[Image: 2764.png]" /><br />
<br />
</span><img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/284809858_388294473357426_8696781412819673773_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=0wKEtILROQUAX_37C1t&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT_WVoBvelFI0n4uJAoqA_tMzh8yRaOERiZM2cT3lp--TA&amp;oe=629CB60C" border="0" alt="[Image: 284809858_388294473357426_86967814128196...e=629CB60C]" /><span style="font-family: inherit;"><br />
</span><br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/283277051_388295366690670_7500308229545300050_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=3zff9mWpFZsAX9TDJYx&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT-vMuAoHm9gLXSoqLaC8bsW-lKp9ywH-B1wuxuPPTJwyA&amp;oe=629C919F" border="0" alt="[Image: 283277051_388295366690670_75003082295453...e=629C919F]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/284990334_388294500024090_7393977173804037973_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=QemgpjfOVb0AX9KMkqU&amp;tn=cJngb0KZca2tlgh_&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT_K576nKwLmU6HnG16eZ9QwchjQDP6GiHOwgtADQLJ-5w&amp;oe=629CD117" border="0" alt="[Image: 284990334_388294500024090_73939771738040...e=629CD117]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/285264201_388294630024077_8297664823621731605_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=WDmbDIxNZzQAX-xlf8o&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT__wmxH2HdVMN9VoxTt5slU-gdaogmQa31zi6StRFV89g&amp;oe=629B576C" border="0" alt="[Image: 285264201_388294630024077_82976648236217...e=629B576C]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/284928255_388294570024083_4014821145074944449_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=DznVMsuUPhsAX_6Drk4&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT-aE_aOMS4R_q1bPf3a8ORbH5wNP1q2-vXm2lgJAHBP5Q&amp;oe=629B4FAE" border="0" alt="[Image: 284928255_388294570024083_40148211450749...e=629B4FAE]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/285215749_388294573357416_7903398089637577448_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=U6oO8-kveeYAX_swc_-&amp;_nc_oc=AQmoeEYFqB3UL6MRzG46WgUJODCxsInljAMrc56ZitK-J_IPSQr_wdj_KwRO-UKzDq2kXzl5VM_7eeVkAn6PUYYA&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT_Txa6e1o58iaEihyjs8l-oBa9Zm8qeaOU58-ZLZ71bUQ&amp;oe=629BD259" border="0" alt="[Image: 285215749_388294573357416_79033980896375...e=629BD259]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/285233988_388294756690731_4136020843282581643_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=lrHU0JlucGgAX8i_9rq&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT9DlByCvTC7tS4w1XuFc6Hrte8EW45Lt3ks-adDdb4MSQ&amp;oe=629AE430" border="0" alt="[Image: 285233988_388294756690731_41360208432825...e=629AE430]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/284790021_388294646690742_5819962317061896500_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=q6FjuMMpmaEAX8D86wK&amp;tn=cJngb0KZca2tlgh_&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT89G8LEx8CWTPKGxmUufhDK03_quad5r9IejJ7nodaqNA&amp;oe=629B5F85" border="0" alt="[Image: 284790021_388294646690742_58199623170618...e=629B5F85]" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<a href="https://www.facebook.com/rena.hernandez.165685/posts/pfbid0mCt5XyGE9QT7D5rQRXGZBqt36k6q3CCD138qiesxb3VBS8HkwxkjUL8rjbJTmFaYl" target="_blank">https://www.facebook.com/rena.hernandez....rjbJTmFaYl</a><br />
<br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Meet The Man Personalizing Caskets For The Children Killed In The Uvalde School Shooting</span><span style="font-family: inherit;">Custom casket-maker Trey Ganem is among the professionals providing funeral services to the victims’ families free of charge.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">It’s an enormous task for a small town with its limited local resources to memorialize 21 people back-to-back, and the charge becomes even more daunting when 19 of them are children.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">The race to supply caskets for 19 children began when Ganem, of SoulShine Industries, responded to messages on Facebook and a few calls from people in the death care industry, including one from someone at the Texas Funeral Directors Association asking for help.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">[/font]<br />
[font=inherit]But smaller caskets are rarely stocked in bulk. So Ganem, who is based in Edna, Texas, near the Gulf Coast, had to order them from a manufacturer in Griffin, Georgia, potentially jeopardizing on-time deliveries for grieving families whose funeral services would start within a week.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Ganem said the manufacturer worked for 20 hours straight to get the orders out on time. Then his close friend Bubba Hoffman hired a Texas trucking company to make the 26-hour trip from Texas to Georgia and then back to Texas. When the delivery arrived at 2 a.m. Friday, Ganem and his son Billy Ganem worked nonstop, getting only a couple of hours of sleep. </span><br />
<span style="font-family: inherit;">The father and son usually manage the shop alone, but Trey Ganem said as many as a dozen people volunteered to help, some of whom traveled to Edna from as far as Corpus Christi, Texas, to help paint, sand, and apply vinyl to the child-size caskets.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">By Saturday, the crew was making the three-and-a-half-hour drive to Uvalde from Edna to donate eight completed caskets. Ganem expects to deliver the remaining caskets Sunday. In all, he prepared 19 caskets for Uvalde victims: 18 of the 19 children and one adult<img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/tf3/1.5/16/2764.png" border="0" alt="[Image: 2764.png]" /><img src="https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/tf3/1.5/16/2764.png" border="0" alt="[Image: 2764.png]" /><br />
<br />
</span><img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/284809858_388294473357426_8696781412819673773_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=0wKEtILROQUAX_37C1t&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT_WVoBvelFI0n4uJAoqA_tMzh8yRaOERiZM2cT3lp--TA&amp;oe=629CB60C" border="0" alt="[Image: 284809858_388294473357426_86967814128196...e=629CB60C]" /><span style="font-family: inherit;"><br />
</span><br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/283277051_388295366690670_7500308229545300050_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=3zff9mWpFZsAX9TDJYx&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT-vMuAoHm9gLXSoqLaC8bsW-lKp9ywH-B1wuxuPPTJwyA&amp;oe=629C919F" border="0" alt="[Image: 283277051_388295366690670_75003082295453...e=629C919F]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/284990334_388294500024090_7393977173804037973_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=QemgpjfOVb0AX9KMkqU&amp;tn=cJngb0KZca2tlgh_&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT_K576nKwLmU6HnG16eZ9QwchjQDP6GiHOwgtADQLJ-5w&amp;oe=629CD117" border="0" alt="[Image: 284990334_388294500024090_73939771738040...e=629CD117]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/285264201_388294630024077_8297664823621731605_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=WDmbDIxNZzQAX-xlf8o&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT__wmxH2HdVMN9VoxTt5slU-gdaogmQa31zi6StRFV89g&amp;oe=629B576C" border="0" alt="[Image: 285264201_388294630024077_82976648236217...e=629B576C]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/284928255_388294570024083_4014821145074944449_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=DznVMsuUPhsAX_6Drk4&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT-aE_aOMS4R_q1bPf3a8ORbH5wNP1q2-vXm2lgJAHBP5Q&amp;oe=629B4FAE" border="0" alt="[Image: 284928255_388294570024083_40148211450749...e=629B4FAE]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/285215749_388294573357416_7903398089637577448_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=U6oO8-kveeYAX_swc_-&amp;_nc_oc=AQmoeEYFqB3UL6MRzG46WgUJODCxsInljAMrc56ZitK-J_IPSQr_wdj_KwRO-UKzDq2kXzl5VM_7eeVkAn6PUYYA&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT_Txa6e1o58iaEihyjs8l-oBa9Zm8qeaOU58-ZLZ71bUQ&amp;oe=629BD259" border="0" alt="[Image: 285215749_388294573357416_79033980896375...e=629BD259]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/285233988_388294756690731_4136020843282581643_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=lrHU0JlucGgAX8i_9rq&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT9DlByCvTC7tS4w1XuFc6Hrte8EW45Lt3ks-adDdb4MSQ&amp;oe=629AE430" border="0" alt="[Image: 285233988_388294756690731_41360208432825...e=629AE430]" /><br />
<br />
<br />
<img src="https://scontent.fhou1-2.fna.fbcdn.net/v/t39.30808-6/284790021_388294646690742_5819962317061896500_n.jpg?_nc_cat=1&amp;ccb=1-7&amp;_nc_sid=8bfeb9&amp;_nc_ohc=q6FjuMMpmaEAX8D86wK&amp;tn=cJngb0KZca2tlgh_&amp;_nc_ht=scontent.fhou1-2.fna&amp;oh=00_AT89G8LEx8CWTPKGxmUufhDK03_quad5r9IejJ7nodaqNA&amp;oe=629B5F85" border="0" alt="[Image: 284790021_388294646690742_58199623170618...e=629B5F85]" />]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[LEAMSING CHIỀU TỊ NẠN]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7969</link>
			<pubDate>Sat, 30 Apr 2022 01:50:19 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7969</guid>
			<description><![CDATA[( Trần Chí Phúc )<br />
<br />
Leamsing là tên của trại tị nạn ở Thái Lan. Năm 1980 tình cờ đọc một bài thơ trên tạp chí Việt Nam Hải Ngoại, tên là Leamsing Hoài Cảm của tác giả Thế Trân nói về nỗi buồn trại tị nạn của những thuyền nhân Việt Nam. Nỗi buồn trại tị nạn hầu như đều giống nhau dù ở Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân với nỗi nhớ quê nhà, nỗi đau mất người thân trên biển cả. Nạn hải tặc hãm hiếp, giết người cướp gắn liền với cái tên Thái Lan.<br />
<br />
Tôi vẫn còn nhớ những khi trời mưa, nước mưa từ mái lều nhỏ xuống chỗ nằm và dân tị nạn phải ngồi trên giường dùng cái nồi, chảo để hứng nước. Hoặc một buổi mưa gió những tháng đầu năm 1979, tôi thức dậy đứng ôm hai cái bao bố dùng để lót nằm và đắp khi ngủ ngoài lều , nhìn mưa ở trại Kota Bharu ( Mã Lai) mà bâng khuâng. Mấy câu thơ “Leamsing chiều thê lương. Ngồi hứng nước trên giường. Những giọt mưa nước mắt. Người tị nạn Đông Dương.” làm nhớ một thời trại tị nạn.<br />
<br />
Tôi chọn một số đoạn trong bài thơ Leamsing Hoài Cảm của Thế Trân, phổ nhạc và đặt tên bài hát là Leamsing Chiều Tị Nạn với sự góp ý của Nguyễn Ngọc Trọng, lúc đó cùng sinh hoạt ca nhạc gần gũi với nhau ở thành phố Calgary, Canada.<br />
<br />
Vì ca khúc phổ từ thơ cho nên giai điệu có những chuyển cung phong phú và lời ca chất chứa hình ảnh trại tị nạn khá rõ nét. Ngọc Trọng đã thu băng bài này trong cuốn Ru Em Đời Mất Xứ do tôi và anh cùng thực hiện năm 1982 tại Canada và sau đó tôi đã nhờ Thái Hiền ca trong cuốn băng Sài Gòn Em Ở Đó thực hiện tại San Jose năm 1986.<br />
<br />
Bên cạnh bản Xác Em Nay Ở Phương Nào mà tôi phổ từ thơ Ngọc Khôi thì Leamsing Chiều Tị Nạn phổ từ thơ Thế Trân là hai ca khúc đậm nét vượt biển thuyền nhân trại tị nạn. Dưới đây là những đoạn thơ trong bài Leamsing Hoài Cảm của Thế Trân:<br />
<br />
Leamsing chiều gió lộng. Người thiếu phụ ngó mong. Nhìn Biển Đông xa tít. Nơi mất con mất chồng. Leamsing buổi hoàng hôn. Gã đàn ông cô đơn. Ngồi nhớ người vợ trẻ. Qua bể nay không còn.<br />
<br />
Leamsing em gái thơ. Lãnh đạm và thờ ơ. Hận vì quân hải tặc. Mặc cảm đời nhuốc nhơ. Leamsing buồn mênh mang. Tin đến từ Việt Nam. Bao người thân sa lưới. Bọn cộng sản công an.<br />
<br />
Leamsing chiều thê lương. Ngồi hứng nước trên giường. Những giọt mưa nước mắt. Người tị nạn Đông Dương.<br />
<br />
Leamsing là bài thơ. Của những người bất khuất. Thản nhiên vào cõi chết. Vì hai tiếng Tự Do.<br />
<br />
Leamsing chốn dừng chân. Lớp lớp vạn thuyền nhân. Một lần qua đất Thái. Nhớ tới mà bâng khuâng.<br />
<br />
Cho đến hôm nay tôi chẳng liên lạc được với Thế Trân tác giả bài thơ cũng như Ngọc Khôi vì chỉ biết bài thơ qua tạp chí. Nếu đọc được dòng chữ này thì xin liên lạc cho biết.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[( Trần Chí Phúc )<br />
<br />
Leamsing là tên của trại tị nạn ở Thái Lan. Năm 1980 tình cờ đọc một bài thơ trên tạp chí Việt Nam Hải Ngoại, tên là Leamsing Hoài Cảm của tác giả Thế Trân nói về nỗi buồn trại tị nạn của những thuyền nhân Việt Nam. Nỗi buồn trại tị nạn hầu như đều giống nhau dù ở Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân với nỗi nhớ quê nhà, nỗi đau mất người thân trên biển cả. Nạn hải tặc hãm hiếp, giết người cướp gắn liền với cái tên Thái Lan.<br />
<br />
Tôi vẫn còn nhớ những khi trời mưa, nước mưa từ mái lều nhỏ xuống chỗ nằm và dân tị nạn phải ngồi trên giường dùng cái nồi, chảo để hứng nước. Hoặc một buổi mưa gió những tháng đầu năm 1979, tôi thức dậy đứng ôm hai cái bao bố dùng để lót nằm và đắp khi ngủ ngoài lều , nhìn mưa ở trại Kota Bharu ( Mã Lai) mà bâng khuâng. Mấy câu thơ “Leamsing chiều thê lương. Ngồi hứng nước trên giường. Những giọt mưa nước mắt. Người tị nạn Đông Dương.” làm nhớ một thời trại tị nạn.<br />
<br />
Tôi chọn một số đoạn trong bài thơ Leamsing Hoài Cảm của Thế Trân, phổ nhạc và đặt tên bài hát là Leamsing Chiều Tị Nạn với sự góp ý của Nguyễn Ngọc Trọng, lúc đó cùng sinh hoạt ca nhạc gần gũi với nhau ở thành phố Calgary, Canada.<br />
<br />
Vì ca khúc phổ từ thơ cho nên giai điệu có những chuyển cung phong phú và lời ca chất chứa hình ảnh trại tị nạn khá rõ nét. Ngọc Trọng đã thu băng bài này trong cuốn Ru Em Đời Mất Xứ do tôi và anh cùng thực hiện năm 1982 tại Canada và sau đó tôi đã nhờ Thái Hiền ca trong cuốn băng Sài Gòn Em Ở Đó thực hiện tại San Jose năm 1986.<br />
<br />
Bên cạnh bản Xác Em Nay Ở Phương Nào mà tôi phổ từ thơ Ngọc Khôi thì Leamsing Chiều Tị Nạn phổ từ thơ Thế Trân là hai ca khúc đậm nét vượt biển thuyền nhân trại tị nạn. Dưới đây là những đoạn thơ trong bài Leamsing Hoài Cảm của Thế Trân:<br />
<br />
Leamsing chiều gió lộng. Người thiếu phụ ngó mong. Nhìn Biển Đông xa tít. Nơi mất con mất chồng. Leamsing buổi hoàng hôn. Gã đàn ông cô đơn. Ngồi nhớ người vợ trẻ. Qua bể nay không còn.<br />
<br />
Leamsing em gái thơ. Lãnh đạm và thờ ơ. Hận vì quân hải tặc. Mặc cảm đời nhuốc nhơ. Leamsing buồn mênh mang. Tin đến từ Việt Nam. Bao người thân sa lưới. Bọn cộng sản công an.<br />
<br />
Leamsing chiều thê lương. Ngồi hứng nước trên giường. Những giọt mưa nước mắt. Người tị nạn Đông Dương.<br />
<br />
Leamsing là bài thơ. Của những người bất khuất. Thản nhiên vào cõi chết. Vì hai tiếng Tự Do.<br />
<br />
Leamsing chốn dừng chân. Lớp lớp vạn thuyền nhân. Một lần qua đất Thái. Nhớ tới mà bâng khuâng.<br />
<br />
Cho đến hôm nay tôi chẳng liên lạc được với Thế Trân tác giả bài thơ cũng như Ngọc Khôi vì chỉ biết bài thơ qua tạp chí. Nếu đọc được dòng chữ này thì xin liên lạc cho biết.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Gia Đình Suy Ngẫm vê Alzheimer]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7964</link>
			<pubDate>Thu, 14 Apr 2022 01:31:28 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7964</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-family: inherit;">Mất trí nhớ là bệnh đáng sợ nhất trong tất cả các bệnh của con người.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Có 2 loại bệnh mất trí nhớ: Alzheime, Dementia</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Loại nặng là Alzheimer. Hoàn toàn mất hẳn trí nhớ, như trường hợp Tổng Thống Reagan (kéo dài 10 năm mới chết).</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Loại nhẹ gọi là Dementia lúc nhớ lúc quên, như trường hợp nhà Bác Học Albert Einstein.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Cho tới bây giờ khoa học cũng vẫn chưa tìm ra phương pháp phòng ngừa hay chữa trị.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Các bác sĩ thì khuyên bắt đầu óc làm việc chút chút mỗi ngày, cũng là một cách tập thể dục cho cái đầu (não) của mình vậy thôi.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Đọc sách, viết bài, viết thư… cũng là một cách tập thể dục đầu. Tức là bắt cái não của mình không được “nhàn cư vi bất thiện” rảnh quá rồi nghĩchuyện linh tinh than mây khóc gió.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Hoặc như Mỹ nói “use it or lose it”</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Quả thật từ khi có internet, thì mọi thứ tin tức và hình ảnh được lan tràn trên khắp thế giới chỉ sau vài tích tắc. Người dân trên toàn thế giới (ngoại trừ Bắc Hàn và các nước độc tài) có thể theo dõi đủ mọi biến chuyển ngay khi xảy ra.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Ngay cả ở Mỹ, khi có World Cup về đá banh, đâu phải trận banh nào quí vịcũng được coi hết đâu. Nhất là khi Mỹ đã thua rồi, là coi như dẹp bớt, ông chồng tôi (chuyên gia TV 24/7&amp; 20 hour/ day) bảo thế.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Mặc dù bệnh mất trí nhớ không làm tổn thương tới thân xác bệnh nhân như các bệnh nhiễm trùng, hay bệnh ung thư tàn phá cơ thể rất nhanh.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Không ảnh hưởng tới physical, vì chỉ có não không còn làm việc, chứ ti m gan phèo phổi vẫn bình thường. Bệnh nhân vẫn có thể sống rất lâu, nếu không muốn nói là thọ.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Không tổn thương về thể chất (của bệnh nhân), nhưng tổn thương rất nặng về tinh thần cho người chăm sóc.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Biết bao câu chuyện não lòng khi có người thân bị bệnh mất trí. Nhất là khi người ấy lại là ông bà cha mẹ của mình.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Trong các triệu chứng của bệnh mất trí nhớ nhẹ Dementia (lúc khởi đầu) có một triệu chứng đã làm tổn thương tới tình cảm gia đình. Đó là người bệnh lúc nào cũng nghi ngờ bị mất cắp tiền bạc hay nữ trang của mình.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Họ có thể nói (y như thật) người này người kia đã lấy cắp của họ. Nếu chỉ có một người chăm sóc người bệnh (ông bà cha mẹ), thì ráng giữ bình tĩnh bỏ ngoài tai, coi như không chấp. Nhưng khổ nỗi vì cuộc sống khó khăn, rất nhiều người ở VN, sau khi lập gia đình</span><span style="font-family: inherit;">vẫn phải ở chung theo kiểu ngũ đại đồng đường. Cháu dâu con dâu, cháu rể con rể là người không cùng máu mủ hay bị hàm oan.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Có một điều không hiểu nổi, đó là họ có thể không nhận được tất cả mọi người. Nhưng bà mẹ chồng vẫn biết đây là thằng con yêu quí của mình. Bà đợi con đi làm về, để than thở bị bỏ đói cả ngày. Còn ai ở nhà cả ngày với bà, ngoài người vợ của mình, tức là con</span><span style="font-family: inherit;">dâu của bà. Oan Thị Kính làm sao giải bày, nuốt bồ hòn làm ngọt. Nếu gặp người chồng vũ phu không có từ tâm hiểu biết, thì chuyện gì sẽ xảy ra?</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Từ đó xảy ra biết bao thảm cảnh gia đình, từ xô xát cãi vã, có khi đưa đến chia tay.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Ngoại trừ đổ thừa bị mất đồ, không nhớ đã ăn cơm hay chưa. Nh ững người bị Alzheimer, dù không còn minh mẫn, nhưng họ vẫn có thể nhận ra những người vô cùng đặc biệt với họ. Bà Nancy bảo rằng ông Tổng Thống Reagan quên hết tất cả mọi người, chỉ còn nhớ duy nhấtmột mình bà. Ít ra cũng còn có một người để cho ông nghe lời.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Căn bệnh mất trí còn nguy hiểm hơn cả bệnh điên. Vì bệnh điên tuy vậy vẫn có thuốc chữa hay chế ngự. Khi người điên nổi cơn người ta cho uống thuốc, cơn điên sẽ bị chế ngự. Sau đó người ta cho chạy điện vô não. Sau một thời gian thì não của người bệnh trở lạibình thường. Đó là do não bị xáo trộn vì một nguyên nhân gì đó, chứ không có hư hại.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Trái lại ở bệnh Alzheimer và bệnh Dementia não đã bị thoái hóa, bị hư hại. Đó là lý do tại sao chưa có cách phòng ngừa và chữa trị.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Chăm sóc cho người bệnh lãng trí là một điều vô cùng khó khăn.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Một con vật bình thường như con chó con mèo, dù không nói được, nhưng chúng vẫn nhận ra và nghe lời người nuôi dưỡng nó. Bởi vì chúng vẫn còn bộ não.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Trong khi người bị lãng trí, chúng ta sẽ cảm thấy đau lòng khi một cụ già bị nhốt trong chuồng, hay bị xích tay xích chân.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Những hình ảnh đó không thể dùng cho con người. Nhưng chúng ta phải làm sao, khi người bị lãng trí gây ra đủ thứ vấn nạn, làm đảo lộn cuộc sống của những người trong nhà. Giữa đạo đức và hạnh phúc, chúng ta sẽ chọn bên nào.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Chỉ có Thánh hay Bồ Tát mới giữ cho mình khỏi nổi cơn điên khi bị buộc tội oan ức. Cũng chỉ có thánh mới giữ cho mình được bình tĩnh, khi mỗi ngày thấy đủ thứ xáo trộn xảy ra trong căn nhà của mình.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Ông bà cha mẹ là những người ta phải tương kính theo đạo làm con.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Nhưng khi làm sao giữ được vẹn toàn, khi ông bà cha mẹ bị mất trí. Một bệnh nhân trong thân xác của người trưởng thượng. Có nhiều cô con dâu đã phải gào lên nói dối như cuội, khi nói về bà mẹ chồng. Hoặc khi không còn bình tĩnh họ có thể buộc tội điên điên</span><span style="font-family: inherit;">khùng khùng. Thật tình họ không muốn mang tiếng hỗn láo, chẳng qua cơn giun xéo mãi cũng quằn! Khó có ai giữ cho mình sống trọn đạo làm con.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Bản thân tôi có cha mẹ bị Dementia, nghĩa là những gì các cụ nói cần phải xét lại, thế mà cũng vẫn bị lừa đều đều. Lần nào cũng vì sốt ruột khi nghe bố gọi với giọng thều thào “có gì ăn không, bố đói quá”. Lúc ông đang ở trong rehab gần nhà, cổ tay luôn luôn</span><span style="font-family: inherit;">đeo một cái vòng có ghi số điện thoại của tôi, để bất kỳ có chuyện gì xảy ra, ai cũng có thể gọi ngay cho con cháu.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Hôm đó bố tôi ra dấu cho có người giúp. Đầu tiên một giọng nữ gọi, bảo ông muốn nói chuyện với cô. Nghe bố nói muốn ăn cháo (kiểu VN), dạ dạ thưa thưa, cuống quýt đi hâm cháo. Chưa được 10 phút, lại nghe điện thoại gọi, lần này là giọng nam, lại dạ dạ thưa thưa con mang vào ngay. Chạy hộc tốc tới (rehab chỉ cách nhà có 10'), tôi chưng hửng, vì bố tôi đang ngồi trước mặt mâm cơm của nhà thương, còn y nguyên.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Không hiểu tại sao người bị lãng trí, lại “thông minh” đến thế. Không biết tiếng Anh, nhưng bố tôi biết ngoắc một cô y tá nhờ gọi dùm. Sau đó lại nhờ một người y tá khác (đàn ông) gọi tiếp. Nói chuyện bằng tiếng Việt nên họ không hiểu mình nói gì.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Từ đó có kinh nghiệm, tôi không quýnh quáng, mà hỏi lại caregiver. Tuy vậy cũng vẫn chạy vào thăm, nếu không ông cụ sẽ giận hờn bỏ ăn.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Người ta nói khi già, người ta sẽ trở thành con nít (chướng). Họ sẽ bướng bỉnh khó chiều, nếu thành con nít ngoan thì đâu có chuyện gì xảy ra.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Một triệu c hứng kinh khủng cho người chăm sóc người bị mất trí, đó là h ọkhông còn phân biệt được đúng sai, họ có thể ăn ngay phân của họ, nghĩalà chúng ta không thể rời mắt khỏi họ. Điều này đã làm đau lòng con cái vô cùng.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Có nhiều gia đìn h khi đi làm, họ phải khoá cầu dao điện, nếu nấu bằng bếp điện. Vì các cụ già khi muốn ăn bánh mì, họ đút luôn cả ổ bánh vào lò nướng, vẫn còn giấy gói và dây thun cột. Có người còn tinh nghịch đốtcả thảm lót nhà.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Nói chung là khi trong nhà có người bị bệnh mất trí, thì ngay cả người chăm sóc cũng mệt nhoài, vì mắt phải luôn luôn ngó chừng. Đôi khi ngay cả người lành cũng không ngờ được những phản ứng bất thường của bệnh nhân.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Bà Nancy vợ của Tổng Thống Reagan chăm sóc ông bị bệnh Alzheimer ( nặng ) suốt 10 năm trời. Không thể dùng một chữ nào khác hơn chữ “ độc ác” để diễn tả bệnh này. Thông minh hóm hỉnh, tài giỏi, ăn mặc luôn luôn lịch sự. Tất cả không còn nữa, bà Nancy chẳng còn cho ai nhìn thấy ông trong bộ dạng thê thảm thiểu não, quần áo xộc xệch, bộ mặt ngây ngô, không còn ra hình dáng của một chính khách được ngưỡng mộ ngày nào. Thôi thì hãy để mọi người coi như ông đã chết.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Biết bao câu chuyện đau lòng của người thân, khi có ông bà cha mẹ bị bệnh mất trí nhớ. Dù cho bạn có thông minh như nhà Bác Học Albert Einstein cũng vẫn mắc bệnh như thường. Dù cho bạn có học cao hay giàu có đến đâu, bạn cũng vẫn nghẹn ngào khi thấy người thân yêu của mình tàn tạ hay có những hành động làm đau nhói con tim. Điều này có thể hiểu được tại sao có nhiều người bình thường đã đem nhốt người bệnh vào những cái cũi như cũi chó.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Họ quá nghèo khổ, phải lo bươn chải cho miếng cơm manh áo. Họ phải làm liều, dù thật sự trong lòng họ không muốn. Gặp thời thế thế thời phải thế. Cái khó bó cái khôn. Ở trong chăn mới biết chăn có rận.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Một cô gái thượng (ở VN) bị xích trong rừng vì mất trí cả mấy năm trời, cho tới khi được một Linh Mục giải cứu mang về nhà thờ.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Không thể nào kể siết về những hoàn cảnh thương tâm của những người bị căn bệnh độc ác này. Hành hạ bệnh nhân thì ít (vì họ không còn nhận thức), nhưng hành hạ gia đình người bệnh thì nhiều.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Cách đây 20 năm, có một thanh niên ở phía Đông Bắc Mỹ, đã bỏ cha già bị bệnh mất trí vào lò sưởi đốt. Vì anh ta là con một, lương không trả nổi cho nursing home (hạng bét 200dollar/ ngày).</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Người không mất trí chăm sóc cho người bệnh, cũng mất trí luôn, đó là trường hợp của anh này. Những khó khăn đã dồn họ đến chân tường tuyệt vọng.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Chúng tôi đã nhiều lần dặn dò con cháu, nếu b ố mẹ bị bệnh lãng trí, cứ mạnh dạn đưa vào nursing home, đừng lo phiền áy náy. Vì lúc này bố mẹ chỉ còn kéo dài cuộc sống trong vô thức. Không còn biểu lộ được tình cảmvới con cháu. Trái lại khi cho ở chung, những</span><span style="font-family: inherit;">biểu hiện của căn bệnh sẽ làm mất cả tình thân. Chẳng thà để bố mẹ hành hạ quấy phá người dưng. Khi bố mẹ còn tỉnh táo dặn dò con cháu, đó là ýnguyện của bố mẹ, các con không có lỗi gì cả. Tất cả mọi người trong gia đình bố mẹ đều yêu quý vô vàn. Hãy có từ tâm đừng nghĩ xấu nghĩ ác, rồi nguyền rủa người khác. Bởi vì tục ngữ có câu chẳng ai nắm tay được từ sáng đến tối. Một ngày nào đó rồi chúng ta cũng sẽ già, như lời Phật dạy. Sinh trụ hoại diệt, hoàng hôn tàn để nhường chỗ cho bình minh ló dạng.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Các con tôi cũng rưng rưng nước mắt. Cũng như ngày xưa chúng tôi cũng đau xé lòng khi thấy cha mẹ mình lú lẫn, bỏ cả đồ dơ vào miệng. Hay ngơ ngác đi lạc ngoài đường.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Người ta không sợ chết, mà chỉ sợ bệnh. Quan niệm bên Phật giáo, cho rằng bệnh tật là cái nghiệp của chúng sinh. Không tôn giáo nào cho phép tự tử. Phật bảo rằng khi tự tử có nghĩa là chưa trả hết nghiệp. Đời sau cũng phải trả tiếp. Luật pháp cũng không cho</span><span style="font-family: inherit;">phép người ta xin chấm dứt sự sống. Bạn thấy điều này có đúng không?</span><span style="font-family: inherit;">Kéo dài cuộc sống trong vô thức, không còn tận hưởng được mọi vui thú của cuộc đời, thì có còn ích lợi gì cho xã hội và cho chính người bị bệnh.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Nếu bạn cổ vũ cho ý tưởng đó, bạn sẽ bị lên án. Vì xã hội không chấp nhận mạng con người như một món đồ vật, để có thể vứt bỏ dễ dàng.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Bạn có biết con số bệnh viện dành cho người mental behavior nhiều gấp mấy con số bệnh viện chữa những bệnh khác. Và người ta đã tránh dùng những chữ điên crazy, hạ giá nhân phẩm. Chỉ dùng những chữ chung chung mental behavior.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Lại thị Mơ.</span><br />
<span style="font-family: inherit;"><br />
</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-family: inherit;">Mất trí nhớ là bệnh đáng sợ nhất trong tất cả các bệnh của con người.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Có 2 loại bệnh mất trí nhớ: Alzheime, Dementia</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Loại nặng là Alzheimer. Hoàn toàn mất hẳn trí nhớ, như trường hợp Tổng Thống Reagan (kéo dài 10 năm mới chết).</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Loại nhẹ gọi là Dementia lúc nhớ lúc quên, như trường hợp nhà Bác Học Albert Einstein.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Cho tới bây giờ khoa học cũng vẫn chưa tìm ra phương pháp phòng ngừa hay chữa trị.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Các bác sĩ thì khuyên bắt đầu óc làm việc chút chút mỗi ngày, cũng là một cách tập thể dục cho cái đầu (não) của mình vậy thôi.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Đọc sách, viết bài, viết thư… cũng là một cách tập thể dục đầu. Tức là bắt cái não của mình không được “nhàn cư vi bất thiện” rảnh quá rồi nghĩchuyện linh tinh than mây khóc gió.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Hoặc như Mỹ nói “use it or lose it”</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Quả thật từ khi có internet, thì mọi thứ tin tức và hình ảnh được lan tràn trên khắp thế giới chỉ sau vài tích tắc. Người dân trên toàn thế giới (ngoại trừ Bắc Hàn và các nước độc tài) có thể theo dõi đủ mọi biến chuyển ngay khi xảy ra.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Ngay cả ở Mỹ, khi có World Cup về đá banh, đâu phải trận banh nào quí vịcũng được coi hết đâu. Nhất là khi Mỹ đã thua rồi, là coi như dẹp bớt, ông chồng tôi (chuyên gia TV 24/7&amp; 20 hour/ day) bảo thế.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Mặc dù bệnh mất trí nhớ không làm tổn thương tới thân xác bệnh nhân như các bệnh nhiễm trùng, hay bệnh ung thư tàn phá cơ thể rất nhanh.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Không ảnh hưởng tới physical, vì chỉ có não không còn làm việc, chứ ti m gan phèo phổi vẫn bình thường. Bệnh nhân vẫn có thể sống rất lâu, nếu không muốn nói là thọ.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Không tổn thương về thể chất (của bệnh nhân), nhưng tổn thương rất nặng về tinh thần cho người chăm sóc.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Biết bao câu chuyện não lòng khi có người thân bị bệnh mất trí. Nhất là khi người ấy lại là ông bà cha mẹ của mình.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Trong các triệu chứng của bệnh mất trí nhớ nhẹ Dementia (lúc khởi đầu) có một triệu chứng đã làm tổn thương tới tình cảm gia đình. Đó là người bệnh lúc nào cũng nghi ngờ bị mất cắp tiền bạc hay nữ trang của mình.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Họ có thể nói (y như thật) người này người kia đã lấy cắp của họ. Nếu chỉ có một người chăm sóc người bệnh (ông bà cha mẹ), thì ráng giữ bình tĩnh bỏ ngoài tai, coi như không chấp. Nhưng khổ nỗi vì cuộc sống khó khăn, rất nhiều người ở VN, sau khi lập gia đình</span><span style="font-family: inherit;">vẫn phải ở chung theo kiểu ngũ đại đồng đường. Cháu dâu con dâu, cháu rể con rể là người không cùng máu mủ hay bị hàm oan.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Có một điều không hiểu nổi, đó là họ có thể không nhận được tất cả mọi người. Nhưng bà mẹ chồng vẫn biết đây là thằng con yêu quí của mình. Bà đợi con đi làm về, để than thở bị bỏ đói cả ngày. Còn ai ở nhà cả ngày với bà, ngoài người vợ của mình, tức là con</span><span style="font-family: inherit;">dâu của bà. Oan Thị Kính làm sao giải bày, nuốt bồ hòn làm ngọt. Nếu gặp người chồng vũ phu không có từ tâm hiểu biết, thì chuyện gì sẽ xảy ra?</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Từ đó xảy ra biết bao thảm cảnh gia đình, từ xô xát cãi vã, có khi đưa đến chia tay.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Ngoại trừ đổ thừa bị mất đồ, không nhớ đã ăn cơm hay chưa. Nh ững người bị Alzheimer, dù không còn minh mẫn, nhưng họ vẫn có thể nhận ra những người vô cùng đặc biệt với họ. Bà Nancy bảo rằng ông Tổng Thống Reagan quên hết tất cả mọi người, chỉ còn nhớ duy nhấtmột mình bà. Ít ra cũng còn có một người để cho ông nghe lời.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Căn bệnh mất trí còn nguy hiểm hơn cả bệnh điên. Vì bệnh điên tuy vậy vẫn có thuốc chữa hay chế ngự. Khi người điên nổi cơn người ta cho uống thuốc, cơn điên sẽ bị chế ngự. Sau đó người ta cho chạy điện vô não. Sau một thời gian thì não của người bệnh trở lạibình thường. Đó là do não bị xáo trộn vì một nguyên nhân gì đó, chứ không có hư hại.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Trái lại ở bệnh Alzheimer và bệnh Dementia não đã bị thoái hóa, bị hư hại. Đó là lý do tại sao chưa có cách phòng ngừa và chữa trị.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Chăm sóc cho người bệnh lãng trí là một điều vô cùng khó khăn.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Một con vật bình thường như con chó con mèo, dù không nói được, nhưng chúng vẫn nhận ra và nghe lời người nuôi dưỡng nó. Bởi vì chúng vẫn còn bộ não.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Trong khi người bị lãng trí, chúng ta sẽ cảm thấy đau lòng khi một cụ già bị nhốt trong chuồng, hay bị xích tay xích chân.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Những hình ảnh đó không thể dùng cho con người. Nhưng chúng ta phải làm sao, khi người bị lãng trí gây ra đủ thứ vấn nạn, làm đảo lộn cuộc sống của những người trong nhà. Giữa đạo đức và hạnh phúc, chúng ta sẽ chọn bên nào.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Chỉ có Thánh hay Bồ Tát mới giữ cho mình khỏi nổi cơn điên khi bị buộc tội oan ức. Cũng chỉ có thánh mới giữ cho mình được bình tĩnh, khi mỗi ngày thấy đủ thứ xáo trộn xảy ra trong căn nhà của mình.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Ông bà cha mẹ là những người ta phải tương kính theo đạo làm con.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Nhưng khi làm sao giữ được vẹn toàn, khi ông bà cha mẹ bị mất trí. Một bệnh nhân trong thân xác của người trưởng thượng. Có nhiều cô con dâu đã phải gào lên nói dối như cuội, khi nói về bà mẹ chồng. Hoặc khi không còn bình tĩnh họ có thể buộc tội điên điên</span><span style="font-family: inherit;">khùng khùng. Thật tình họ không muốn mang tiếng hỗn láo, chẳng qua cơn giun xéo mãi cũng quằn! Khó có ai giữ cho mình sống trọn đạo làm con.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Bản thân tôi có cha mẹ bị Dementia, nghĩa là những gì các cụ nói cần phải xét lại, thế mà cũng vẫn bị lừa đều đều. Lần nào cũng vì sốt ruột khi nghe bố gọi với giọng thều thào “có gì ăn không, bố đói quá”. Lúc ông đang ở trong rehab gần nhà, cổ tay luôn luôn</span><span style="font-family: inherit;">đeo một cái vòng có ghi số điện thoại của tôi, để bất kỳ có chuyện gì xảy ra, ai cũng có thể gọi ngay cho con cháu.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Hôm đó bố tôi ra dấu cho có người giúp. Đầu tiên một giọng nữ gọi, bảo ông muốn nói chuyện với cô. Nghe bố nói muốn ăn cháo (kiểu VN), dạ dạ thưa thưa, cuống quýt đi hâm cháo. Chưa được 10 phút, lại nghe điện thoại gọi, lần này là giọng nam, lại dạ dạ thưa thưa con mang vào ngay. Chạy hộc tốc tới (rehab chỉ cách nhà có 10'), tôi chưng hửng, vì bố tôi đang ngồi trước mặt mâm cơm của nhà thương, còn y nguyên.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Không hiểu tại sao người bị lãng trí, lại “thông minh” đến thế. Không biết tiếng Anh, nhưng bố tôi biết ngoắc một cô y tá nhờ gọi dùm. Sau đó lại nhờ một người y tá khác (đàn ông) gọi tiếp. Nói chuyện bằng tiếng Việt nên họ không hiểu mình nói gì.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Từ đó có kinh nghiệm, tôi không quýnh quáng, mà hỏi lại caregiver. Tuy vậy cũng vẫn chạy vào thăm, nếu không ông cụ sẽ giận hờn bỏ ăn.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Người ta nói khi già, người ta sẽ trở thành con nít (chướng). Họ sẽ bướng bỉnh khó chiều, nếu thành con nít ngoan thì đâu có chuyện gì xảy ra.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Một triệu c hứng kinh khủng cho người chăm sóc người bị mất trí, đó là h ọkhông còn phân biệt được đúng sai, họ có thể ăn ngay phân của họ, nghĩalà chúng ta không thể rời mắt khỏi họ. Điều này đã làm đau lòng con cái vô cùng.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Có nhiều gia đìn h khi đi làm, họ phải khoá cầu dao điện, nếu nấu bằng bếp điện. Vì các cụ già khi muốn ăn bánh mì, họ đút luôn cả ổ bánh vào lò nướng, vẫn còn giấy gói và dây thun cột. Có người còn tinh nghịch đốtcả thảm lót nhà.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Nói chung là khi trong nhà có người bị bệnh mất trí, thì ngay cả người chăm sóc cũng mệt nhoài, vì mắt phải luôn luôn ngó chừng. Đôi khi ngay cả người lành cũng không ngờ được những phản ứng bất thường của bệnh nhân.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Bà Nancy vợ của Tổng Thống Reagan chăm sóc ông bị bệnh Alzheimer ( nặng ) suốt 10 năm trời. Không thể dùng một chữ nào khác hơn chữ “ độc ác” để diễn tả bệnh này. Thông minh hóm hỉnh, tài giỏi, ăn mặc luôn luôn lịch sự. Tất cả không còn nữa, bà Nancy chẳng còn cho ai nhìn thấy ông trong bộ dạng thê thảm thiểu não, quần áo xộc xệch, bộ mặt ngây ngô, không còn ra hình dáng của một chính khách được ngưỡng mộ ngày nào. Thôi thì hãy để mọi người coi như ông đã chết.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Biết bao câu chuyện đau lòng của người thân, khi có ông bà cha mẹ bị bệnh mất trí nhớ. Dù cho bạn có thông minh như nhà Bác Học Albert Einstein cũng vẫn mắc bệnh như thường. Dù cho bạn có học cao hay giàu có đến đâu, bạn cũng vẫn nghẹn ngào khi thấy người thân yêu của mình tàn tạ hay có những hành động làm đau nhói con tim. Điều này có thể hiểu được tại sao có nhiều người bình thường đã đem nhốt người bệnh vào những cái cũi như cũi chó.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Họ quá nghèo khổ, phải lo bươn chải cho miếng cơm manh áo. Họ phải làm liều, dù thật sự trong lòng họ không muốn. Gặp thời thế thế thời phải thế. Cái khó bó cái khôn. Ở trong chăn mới biết chăn có rận.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Một cô gái thượng (ở VN) bị xích trong rừng vì mất trí cả mấy năm trời, cho tới khi được một Linh Mục giải cứu mang về nhà thờ.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Không thể nào kể siết về những hoàn cảnh thương tâm của những người bị căn bệnh độc ác này. Hành hạ bệnh nhân thì ít (vì họ không còn nhận thức), nhưng hành hạ gia đình người bệnh thì nhiều.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Cách đây 20 năm, có một thanh niên ở phía Đông Bắc Mỹ, đã bỏ cha già bị bệnh mất trí vào lò sưởi đốt. Vì anh ta là con một, lương không trả nổi cho nursing home (hạng bét 200dollar/ ngày).</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Người không mất trí chăm sóc cho người bệnh, cũng mất trí luôn, đó là trường hợp của anh này. Những khó khăn đã dồn họ đến chân tường tuyệt vọng.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Chúng tôi đã nhiều lần dặn dò con cháu, nếu b ố mẹ bị bệnh lãng trí, cứ mạnh dạn đưa vào nursing home, đừng lo phiền áy náy. Vì lúc này bố mẹ chỉ còn kéo dài cuộc sống trong vô thức. Không còn biểu lộ được tình cảmvới con cháu. Trái lại khi cho ở chung, những</span><span style="font-family: inherit;">biểu hiện của căn bệnh sẽ làm mất cả tình thân. Chẳng thà để bố mẹ hành hạ quấy phá người dưng. Khi bố mẹ còn tỉnh táo dặn dò con cháu, đó là ýnguyện của bố mẹ, các con không có lỗi gì cả. Tất cả mọi người trong gia đình bố mẹ đều yêu quý vô vàn. Hãy có từ tâm đừng nghĩ xấu nghĩ ác, rồi nguyền rủa người khác. Bởi vì tục ngữ có câu chẳng ai nắm tay được từ sáng đến tối. Một ngày nào đó rồi chúng ta cũng sẽ già, như lời Phật dạy. Sinh trụ hoại diệt, hoàng hôn tàn để nhường chỗ cho bình minh ló dạng.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Các con tôi cũng rưng rưng nước mắt. Cũng như ngày xưa chúng tôi cũng đau xé lòng khi thấy cha mẹ mình lú lẫn, bỏ cả đồ dơ vào miệng. Hay ngơ ngác đi lạc ngoài đường.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Người ta không sợ chết, mà chỉ sợ bệnh. Quan niệm bên Phật giáo, cho rằng bệnh tật là cái nghiệp của chúng sinh. Không tôn giáo nào cho phép tự tử. Phật bảo rằng khi tự tử có nghĩa là chưa trả hết nghiệp. Đời sau cũng phải trả tiếp. Luật pháp cũng không cho</span><span style="font-family: inherit;">phép người ta xin chấm dứt sự sống. Bạn thấy điều này có đúng không?</span><span style="font-family: inherit;">Kéo dài cuộc sống trong vô thức, không còn tận hưởng được mọi vui thú của cuộc đời, thì có còn ích lợi gì cho xã hội và cho chính người bị bệnh.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Nếu bạn cổ vũ cho ý tưởng đó, bạn sẽ bị lên án. Vì xã hội không chấp nhận mạng con người như một món đồ vật, để có thể vứt bỏ dễ dàng.</span><br />
<span style="font-family: inherit;">Bạn có biết con số bệnh viện dành cho người mental behavior nhiều gấp mấy con số bệnh viện chữa những bệnh khác. Và người ta đã tránh dùng những chữ điên crazy, hạ giá nhân phẩm. Chỉ dùng những chữ chung chung mental behavior.</span><br />
<br />
<span style="font-family: inherit;">Lại thị Mơ.</span><br />
<span style="font-family: inherit;"><br />
</span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[RỪNG KHÓC GIỮA MÙA XUÂN ]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7960</link>
			<pubDate>Mon, 11 Apr 2022 03:02:23 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7960</guid>
			<description><![CDATA[Phạm Tín An Ninh<br />
<br />
Hơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư tại Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng giá, nhưng lại rất đẹp vào ngày hè và lãng mạn vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở.Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong "Rừng Na-Uy", cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm tôi đau đớn, khốn khổ gần cả một đời.<br />
<br />
Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình,đạp xe theo sau tôi những buổi học tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ rung động trước một người. Anh là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng lớp thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạn, cũng chẳng có điều gì trắc trở.<br />
<br />
Ông xã tôi là lính Biệt Động Quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giầy saut của anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới của chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa trải qua khói lửa Mậu Thân.<br />
<br />
Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ khi nào tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh. Mãi đến ba năm sau, tôi mới sinh cho anh đứa con đầu lòng. Một đứa con trai bụ bẫm. Có lẽ vì nặng nợ với núi rừng, anh đề nghị tôi đặt tên cho con là Cao Nguyên. Lê Cao Nguyên. Anh về thăm con khi cháu vừa đầy tháng. Càng lớn Cao Nguyên càng giống cha. Đôi mắt to, sóng mũi cao, đặc biệt là trên đầu mỗi vành tai đều có một "lỗ tai nhỏ" như ba nó.<br />
<br />
Chỉ đúng một tuần sau khi chia tay vợ con về với đơn vị, anh bị thương nặng trong lúc đơn vị hành quân giải vây căn cứ Pleime. Tôi bồng con lên Pleiku. Hậu cứ lo cho mẹ con tôi nơi ăn chốn ở và có xe đưa đón mỗi ngày để tôi thăm và săn sóc anh mỗi ngày trong quân y viện. Sau khi xuất viện, đôi chân còn đi khập khiễng, nên anh được chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đảm trách một công tác tham mưu ở hậu cứ. Mẹ con tôi ở lại Biển Hồ với Anh kể từ ngày ấy. Mẹ chồng tôi rất nhân từ, thường xuyên lên thăm chúng tôi và thuê cho tôi một người giúp việc. Cuối năm 1973, trong một lần pháo kích vào trại gia binh làm một số đàn bà con nít bị thương, trong đó có cháu Cao Nguyên. Rất may, mảnh đạn gây một vết thương khá lớn ở cánh tay, nhưng không vào xương. Sau hôm ấy, chúng tôi ra thuê một căn nhà bên ngoài doanh trại để ở. Năm sau khi Cao Nguyên vừa tròn hai tuổi, tôi sinh đứa con thứ nhì. Lần này là con gái. Con bé giống mẹ, được chúng tôi đặt tên Thùy Dương để nhớ thành phố biển Nha Trang, nơi hai chúng tôi lớn lên và yêu nhau.<br />
<br />
Mấy năm sống ở Pleiku, cái thành phố "đi dăm phút trở về chốn cũ" ấy, những ngày nắng chỉ thấy toàn bụi đỏ, còn những ngày mưa bùn bám dính gót chân. Pleiku đúng là một thành phố lính. Những người vợ lính sống ở đây dường như chỉ để chờ chồng trở về sau những cuộc hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày bị thương nằm trong quân y viện. Với họ thì đúng là "may mà có anh đời còn dễ thương". Trong số ấy đã có biết bao người trở thành góa phụ!<br />
<br />
Giữa tháng 3/75, sau đúng một tuần Ban Mê Thuột mất vào tay giặc. Một buổi sáng, từ bản doanh Liên Đoàn về, anh hối hả bảo mẹ con tôi và chị giúp việc thu dọn đồ đạc gấp, bỏ lại mọi thứ,chỉ mang những gì cần thiết, nhất là thức ăn và sữa cho các con, theo anh vào hậu cứ. Khi vừa đến cổng trại, tôi ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi người đều đã ngồi sẵn trên xe. Chúng tôi rời khỏi doanh trại. Thành phố Pleiku như đang ngơ ngác trước những người từng bao năm sống chết với mình nay vội vàng bỏ đi không một tiếng gĩa từ. Đang giữa mùa xuân mà cả một bầu trời u ám. Pleiku tiễn chúng tôi bằng một cơn mưa đổ xuống khi đoàn xe vừa ra khỏi thành phố. Đến ngã ba Mỹ Thạnh, đoàn xe dừng lại. Phía trước chúng tôi dày đặc xe và người, vừa dân vừa lính, đủ các binh chủng, đủ các loại xe, kể cả xe gắn máy. Tôi nghe chồng tôi và bạn bè nói là ngoài lực lượng xung kích mở đường, một số đơn vị Biệt Động Quân còn được chỉ định đi sau, ngăn chặn địch quân tập hậu để bảo vệ cho đoàn quân di tản! Đây là trách nhiệm nguy hiểm và nặng nề nhất trong một cuộc hành quân triệt thoái.<br />
<br />
Hơn một ngày mò mẫm trên Tỉnh Lộ 7, chúng tôi đến thị xã Hậu Bổn vào lúc trời sắp tối. Vừa dừng lại chưa kịp ăn cơm thì bị pháo kích và súng nổ khắp nơi. Xe và người dẫm lên nhau trong cơn hốt hoảng. Địch đã bao vây. Các đơn vị BĐQ chống trả kiên cường, nhưng địch quá đông, mà bên ta thì vừa quân vừa dân chen chúc nhau hỗn độn. Trong lúc nguy nan này trời lại giáng xuống cho bên ta thêm một điều bất hạnh: Một chiếc phản lực cơ dội bom nhầm vào quân bạn. Đoàn xe vội vã rời Hậu Bổn, di chuyển đến gần Phú Túc thì lại bị địch tấn công từ khắp hướng. Nhiều xe bốc cháy và nhiều người chết hoặc bị thương. Cả đoàn xe không nhúc nhích được. Chúng tôi có lệnh bỏ lại tất cả xe cộ, băng rừng tìm đường về Củng Sơn.<br />
<br />
Chồng tôi, vừa chiến đấu vừa dẫn đường chúng tôi cùng một số binh sĩ, vợ con. Tôi dắt theo Cao Nguyên còn chị giúp việc bồng cháu Thùy Dương. Chúng tôi lầm lũi trong rừng. Tiếng súng vẫn còn ầm ĩ, những viên đạn lửa như muốn xé màn đêm. Khi chúng tôi mệt lả cũng là lúc đến bờ một con suối nhỏ. Chồng tôi lo chỗ ngủ cho mẹ con tôi dưới một gốc cây, rồi cùng một số đồng đội chia nhau canh gác. Mệt qúa, tôi ngủ vùi một giấc, thức giấc thì trời vừa sáng..... Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Tôi không còn đủ sức để bồng Cao Nguyên, nên chồng tôi phải dùng cái võng nilong gùi cháu sau lưng, bên ngoài được phủ bằng cái áo giáp.<br />
<br />
Vừa ra khỏi bìa rừng tôi ngạc nhiên khi thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi cùng hướng chúng tôi, trong đó có nhiều người vừa bị thương, mình đầy máu. Tôi nghĩ họ cũng là những vợ chồng, con cái, cha mẹ dắt dìu nhau đi tìm sự sống. Hình như họ không còn mang theo bất cứ thứ gì. Nhìn nét mặt ai nấy cũng kinh hoàng. Chồng tôi bàn bạc cùng một số bạn bè trong đơn vị, chúng tôi lại tách khỏi đám đông này, tìm một lộ trình khác mà đi, để tránh sự phát hiện của địch.<br />
<br />
Vừa rời đoàn người chừng vài phút thì đạn pháo thi nhau rớt xuống. Tiếng la khóc thất thanh cộng với tiếng súng nổ khắp nơi làm cho cả một khu rừng như trải qua một cơn địa chấn. Trong nhóm chúng tôi cũng có một số người đã chết. Đến lúc này thì mạnh ai nấy tìm đường sống. Gia đình tôi cùng gia đình vài người bạn nữa chạy vào khu rừng phía trước, nơi không nghe tiếng súng. Kinh nghiệm bao nhiêu năm chiến trận, bây giờ chồng tôi chỉ còn dùng để mong cứu được vợ con mình. Địch quân tràn ngập. Một số đơn vị tan rã. Đồng đội kẻ chết người bị thương. Có thể một số đã bị bắt. Tôi không thể tưởng tượng được số mệnh bi thảm của những người lính Biệt Động Quân một thời oanh liệt trên khắp chiến trường, giờ này lại tan tác trong bất ngờ, tức tưởi! Chồng tôi suýt bật khóc, khi nghe cấp chỉ huy truyền lệnh từ ông tướng tư lệnh Quân Đoàn: "Đạp lên mà đi!". Trong cả đời binh nghiệp, chắc những người lính không còn nhận được cái lệnh nào đau đớn hơn thế nữa.<br />
<br />
Sau chừng một tiếng đồng hồ băng rừng, chúng tôi bất ngờ gặp một toán lính hơn 20 người thuộc tiểu đoàn cũ của chồng tôi..... Thầy trò chưa kịp nắm tay mừng rỡ thì súng nổ. Địch quân phía trước mặt.. Trở lại cương vị chỉ huy, chồng tôi lưng mang con, điều động anh em xông vào trận mạc. Một cuộc đánh tốc chiến, toán địch quân bị tiêu diệt. Chồng tôi quay lại tìm và hướng dẫn đám đàn bà con nít chúng tôi đi tiếp.[/font]<span style="font-family: inherit;">Trong núi rừng đêm xuống thật nhanh. Cái bóng tối bây giờ thật rợn người. Tôi hình dung cái bóng của tử thần. Chúng tôi dừng lại trên một ngọn đồi thấp. Tôi nghiệp cho những người lính trung thành. Đáng lẽ họ lợi dụng bóng đêm để đi tiếp, vì đó là sở trường của họ, nhưng thấy một số vợ con bạn bè cùng vài anh em bị thương không thể đi nổi, nghe lời chồng tôi, tất cả cùng ở lại qua đêm. Sau khi sắp xếp anh em phòng thủ, chồng tôi trở lại phụ lo chỗ nằm cho mẹ con tôi. Tối hôm ấy, dù mệt, nhưng sao tôi cứ trằn trọc, không ngủ được. Chồng tôi ôm tôi dựa vào một gốc cây. Anh ôm tôi thật chặt vào lòng, thỉnh thoảng hôn nhẹ tôi, trên môi, trên tóc. Trong hoàn cảnh này chẳng ai còn lòng dạ nào để lãng mạn yêu thương, nhưng có lẽ anh tội nghiệp cho một người con gái đã trót chọn chồng là lính chiến. Và cũng không ngờ đó là những nụ hôn cuối cùng anh dành cho tôi. <br />
<br />
Buổi sáng sớm khi vừa xuống chân đồi, chúng tôi chạm súng với địch. Cũng là lần cuối tôi chứng kiến những người lính Biệt Động can trường. Các anh phân tán từng toán nhỏ, xông vào lòng địch mà đánh, tiếng thét "Biệt Động Quân Sát" vang dội cả một vùng. Nghe súng nổ, tôi đoán lực lượng địch đông lắm. Một anh trung sĩ bị thương ở cánh tay trong trận đánh hôm qua, được chỉ định dắt tất cả đám đàn bà con nít chúng tôi ra khỏi vùng giao chiến. Đã vậy anh còn phải dìu theo một người lính bị thương khác. Vợ chồng tôi thất lạc nhau kể từ phút ấy. Tôi còn lạc mất cả cháu Cao Nguyên, được ba nó gùi theo phía sau lưng ngay cả những khi lâm trận. Không biết chiếc áo giáp có đủ để che chắn hình hài bé nhỏ của con tôi. Hình ảnh này trước đây tôi nghĩ chỉ có diễn ra trong mấy cuốn truyện Tàu mà tôi đã đọc.<br />
<br />
Tiếp tục di chuyển từng vài giờ đồng hồ nữa, khi tới một con đường mòn, chúng tôi lại nghe súng nổ. Anh trung sĩ dẫn đường chúng tôi nhận ra từng loạt lựu đạn nổ, bảo chúng tôi nằm rạp xuống. Chờ im tiếng súng, đám chúng tôi rời con đường mòn, chạy về bên hướng rừng bên phải, mà theo anh trung sĩ, có thể an toàn hơn. Khi đến bìa rừng, tôi thấy mấy người lính BĐQ nằm chết bên cạnh xác quân thù, máu me lai láng. Sau này tôi được biết những người lính này bị địch bao vây, đã tự sát để cùng chết chung với giặc.<br />
<br />
Đi vào cánh rừng bên phải chỉ vài trăm mét nửa thì chúng tôi bị một đám khá đông VC chặn lại. Anh trung sĩ bị tước hết vũ khí. Tất cả chúng tôi bị lùa vào bên bờ suối nhỏ. Ở đây tôi gặp một số sĩ quan, binh sĩ của ta bị bắt, nhiều người tay bị trói ngược ra sau, ngồi theo hàng dọc quay lưng ra suối, trước họng súng sẵn sàng nhả đạn của kẻ thù. Tôi cố ý tìm xem, nhưng không thấy chồng tôi trong số người bị bắt. Lòng tôi lo âu vô hạn. Từ lúc ấy, tiếng súng tạm im, chỉ còn tiếng quát tháo và tiếng nói rất khó nghe của đám người thắng trận. Tất cả chúng tôi bị lùa về địa điểm tập trung, một ngôi trường nằm trong huyện Củng Sơn (Sơn Hòa).<br />
<br />
Trong cảnh khốn cùng này, tôi chỉ còn lại một điều may mắn: Chị giúp việc rất tốt bụng và trung thành. Vừa bồng bế, bảo bọc cho cháu Thùy Dương, vừa lo lắng cho tôi. Chị đi đâu đó xin cho tôi nửa bát cơm, nhưng tôi không nuốt nổi, mặc dù đã trải qua hai ngày đói khát. Nhìn đứa con gái vừa mới lên hai lây lất bên cạnh và nghĩ tới chồng tôi và đứa con trai giờ này không biết sống chết ra sao, lần đầu tiên tôi bật khóc. <br />
<br />
Cuối cùng thì tôi cũng lần mò về đến Nha Trang, khi thành phố này cũng vừa lọt vào tay giặc. Khi nhận ra tôi, mẹ tôi ôm tôi vào lòng và khóc như mưa. Tôi không đủ can đảm để mang tin buồn đến nhà chồng, nhờ cha tôi sang báo tin tôi và cháu Thùy Dương vừa mới về nhà, chồng tôi và cháu Cao Nguyên còn đang mất tích. Cả nhà chồng kéo sang thăm tôi, bồng cháu Thùy Dương về nhà chăm sóc. Mẹ chồng tôi thẫn thờ cả mấy ngày liền khi nhận được tin này. Nằm nhà hơn một tuần, nhờ mẹ tận tình chăm lo, sức khỏe tôi đã gần bình phục, tôi xin được trở lại Phú Bổn tìm chồng và cháu Cao Nguyên. Cả nhà tôi và cha mẹ chồng đều ái ngại, âu lo. Nhưng qua sự nài nỉ của tôi, cuối cùng cha mẹ chồng cho đứa em trai út của chồng tôi, dùng xe honda chở tôi ngược đường lên Tỉnh Lộ 7.<br />
<br />
Mặc dù đã chứng kiến bao nhiêu máu lửa tang tóc, cũng như đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi thực sự kinh hãi những gì trước mắt, khi nhìn thấy ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy, những bộ xương người còn vương vãi đó đây, bao nhiêu nấm mộ bị lấp vội bên đường. Cả một vùng xông mùi tử khí. Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số. Đến Cheo Reo, hỏi thăm một vài người dân, được biết một số sĩ quan bị bắt làm tù binh, đang còn giam ở Thuần Mẫn. Chúng tôi đến đó, trình giấy phép đi tìm chồng của Ủy Ban Quân Quản mới được cho vào trại... Sau khi tên VC trực ban cho biết không có tên chồng tôi trong danh sách tù binh, tôi xin được gặp bất cứ sĩ quan nào cùng đơn vị với chồng tôi. Rất may, tôi gặp được anh đại đội phó lúc chồng tôi còn ở tiểu đoàn. Anh cho biết là có gặp một số binh sĩ cùng chồng tôi chiến đấu dưới ngọn đồi gần đèo Tu Na. Họ cho biết chồng tôi bị thương, nhưng cố tìm cách đưa cháu Cao Nguyên đến một nơi nào đó. Tôi sáng lên niềm hy vọng. Ngay hôm ấy tôi thuê năm người thượng, theo tôi lần theo con đường dọc bờ sông mà tôi còn nhớ, trở lại khu đồi thấp, rồi bung ra xa đi tìm. Liên tục trong một tuần, chúng tôi chỉ tìm được mấy bộ xương người, một số mộ vô danh, nhưng không thấy dấu vết của chồng tôi. Tôi trở về mang theo niềm tuyệt vọng, không chỉ cho tôi, mà cho cả nhà chồng .<br />
<br />
Cha mẹ chồng tôi lập bàn thờ cho chồng tôi và Cao Nguyên, đứa cháu đích tôn của ông bà. Ngày 19 tháng 3 là ngày giỗ của hai cha con.</span>]Hàng năm, cứ đến ngày này, tôi và Thùy Dương đều trở lại Phú Bổn, tìm đến chân đồi, dưới gốc cây nằm giữa đỉnh đồi, mà đêm cuối cùng chồng tôi ôm tôi vào lòng, thắp hương tưởng niệm anh và cháu Cao Nguyên.. Tôi đã dùng dao khắc đậm tên anh và cháu Cao Nguyê vào thân cây. Lần nào, khi nước mắt ràn rụa, trong tiếng gió rừng, tôi mơ hồ như có tiếng khóc từ gốc cây này, rồi văng vẳng bao nhiêu tiếng khóc từ những thân cây khác, từ những khúc gỗ nằm vương vãi do bom đạn hôm nào, tạo thành những âm thanh não nùng, xé ruột.<br />
<br />
Tôi đã mang dư âm của tiếng khóc ấy đến tận Bắc Âu, nơi mẹ con tôi định cư sau chuyến vượt biển được một chiếc tàu của vương quốc Na Uy cứu vớt. Tháng 5 năm 1985, cha mẹ chồng tôi góp vàng cùng một người bạn ở vùng biển Lương Sơn đóng ghe vượt biển. Tôi, cháu Thùy Dương, và một đứa em trai của tôi đi cùng với gia đình chồng. Tôi cũng xin được một chỗ cho chị giúp việc lúc trước (chị đã về quê trên vùng quê Diên Khánh, sau ngày cùng tôi thoát chết trở về), nhưng chị chối từ. Tôi âm thầm gom nhặt tài sản của nhà chồng và của tôi mang lên biếu chị trước khi rời khỏi quê nhà.<br />
<br />
Hai mươi năm sau, khi Thùy Dương vừa làm đám cưới, tôi muốn đưa vợ chồng cháu về lại Việt Nam trình diện ông bà ngoại, và đến địa điểm cuối cùng khi chồng tôi và Cao Nguyên còn sống, như là một nghĩa cử để cháu tưởng nhớ đến cha và anh mình. Chúng tôi đến đây vào giữa mùa xuân, một ngày trước ngày giỗ chồng và đứa con trai. Con đường Tỉnh Lộ 7 ngày xưa bây giờ đã được tráng nhựa và đổi tên thành Quốc Lộ 25. <br />
<br />
Chúng tôi thuê bao một chiếc xe tám chỗ ngồi. Ngoài tôi và vợ chồng cháu Thùy Dương ,còn có vợ chồng cậu em trai út của tôi và vợ chồng chị giúp việc ngày xưa. Chúng tôi đến Cheo Reo, bây giờ có tên mới là A Yun Pa thuộc tỉnh Gia Lai. Tất cả không còn gì dấu vết của chiến tranh. Người ta đã cố tình trát phấn tô son lên thành phố núi này để có dáng dấp của thời kỳ đổi mới. Màu sắc lòe loẹt, vài ngôi nhà cao tầng quê mùa kệch cỡm, những ngôi nhà sàn "cải biên" thành những biệt thự của các ông quan lớn, nằm chơ vơ giữa một vùng nghèo nàn mang tên "thị xã". Nhìn dãy núi Hàm Rồng từ xa, ẩn hiện trong những đám mây mù, lòng tôi chùng xuống. Nơi ấy, đã bao lần tôi đến thăm chồng, để được hòa mình vào đơn vị với những người lính trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Cũng ở nơi ấy tôi đã vinh dự chứng kiến chồng tôi cùng nhiều anh em đồng đội được ông tướng Vùng gắn huy chương lên ngực áo khi ban nhạc trổi khúc quân hành. Tất cả bây giờ đã trở thành huyền thoại. <br />
<br />
Sau khi thuê phòng trọ, tắm rửa và cơm nước xong, chúng tôi hỏi đường đến tháp Yang Mun và tháp Drang Lai. Vì nghe dân ở đây bảo các vị thần Chàm trong hai ngôi tháp này linh thiêng ghê lắm. Tôi khấn vái và xin xăm. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi lá xăm tôi bốc trúng lại là bốn câu Kiều của ông Nguyễn Du:<br />
<br />
Từ phen chiếc lá lìa rừng .<br />
Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây <br />
Rõ ràng hoa rụng hương bay <br />
Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi.<br />
<br />
Tôi bán tín bán nghi, vì nghe nhiều người nói ở Việt Nam, chuyện cúng bái, mê tín dị đoan, bây giờ là một business. Chẳng lẽ ông thần Chàm này lại thuộc cả truyện Kiều. Nghĩ như vậy, nhưng thấy bốn câu thơ lại đúng vào trường hợp của mình, tôi cũng thấy lòng buồn vô hạn. Trở về phòng trọ, bà chủ nhà cho biết ngày mai có chợ phiên của người dân tộc, vừa đông vui vừa có thể mua nhiều thứ thổ sản, gia cầm với gía rất rẻ. Tôi cũng muốn mua mấy con gà, để cúng chồng tôi. Khi còn sống anh thích ăn gà luộc. Bà còn cho biết thêm dân chúng ở vùng này đa số là người Thượng thuộc các sắc tộc Djarai, Bahnar, Hroi và M'dhur. Có một số sống trong các bản rất xa, cách thị xã này từ 10 tới 20 cây số.<br />
<br />
Sau một đêm trằn trọc với những cơn ác mộng, vừa mới chợp mắt tôi đã nghe tiếng người réo gọi nhau. Ngôn ngữ của các sắc tộc, tôi không hiểu họ nói gì. Chợ phiên nhóm rất sớm.Chúng tôi vội vàng ăn sáng rồi kéo nhau ra khu chợ, nằm không xa trước nhà trọ. Tôi có cảm giác lạ lẫm vì đây là lần đầu tiên tôi đến một buổi chợ phiên của người sắc tộc. Đã vậy vợ chồng cháu Thùy Dương cứ theo hỏi tôi điều này điều nọ. Khi đang cố giải thích về nguồn gốc người Thượng, chúng tôi đến một quày gà. Những con gà tre nhỏ xíu được nhốt trong mấy cái lồng đan bằng tre. Tôi ngồi xuống lựa hai con gà béo nhất, bảo người chủ bắt hộ hai con gà này ra khỏi lồng. Người chủ là anh đàn ông người Thượng vừa đen vừa ốm, nói tiếng Việt chưa sõi... <br />
<br />
Khi Anh xăn tay áo lên và thò tay vào lồng gà, tôi bỗng giật mình khi phát hiện vết sẹo trên cánh tay trái. Vết sẹo có hình dáng đầu một con cọp. Tôi nhớ tới Cao Nguyên, đứa con trai ba tuổi, bị thương trong trận pháo kích của VC vào trại gia binh ở Biển Hồ. Vết thương trên cánh tay cháu sau khi chữa lành cũng để lại một vết sẹo có hình ảnh đầu một con cọp. Biểu tượng binh chủng BĐQ mà chồng tôi luôn mang trên vai áo. Tôi biến sắc, nắm chặt cánh tay anh người Thượng và nhìn vào mặt anh ta. Cũng hai con mắt khá to, cũng cái sống mũi cao, nhưng khuôn mặt cháy nắng, mái tóc mầu nâu sậm như mầu đất đỏ Pleiku. Không có nét đẹp của Cao Nguyên ngày trước. Anh người Thượng ngượng ngùng, cúi mặt xuống, khựng lại. Nhưng tôi chợt nhớ ra trên vành tai của Cao Nguyên có một lỗ tai nhỏ, giống như ba của nó, tôi cúi xuống để nhìn kỹ vào tai anh người thượng. Tôi bàng hoàng khi nhận ra hai cái lỗ tai nhỏ trên hai vành tai. Bất giác, tôi ôm chầm lấy anh và nước mắt trào ra. Nhưng anh bán gà đẩy mạnh tôi ra và nói một tràng tiếng Thượng. Vợ chồng cháu Thùy Dương ngơ ngác nhìn tôi, không biết xảy ra điều gì. <br />
Nghĩ tới chị giúp việc ngày trước có thể xác nhận cùng tôi đôi điều kỳ lạ, tôi báo cháu Thùy Dương đi gọi chị từ gian hàng hoa lan phía trước. Tôi kéo chị ra xa và nói vào tai chị :<br />
- Chị nhìn kỹ anh người Thượng này xem có giống ai không?<br />
<br />
Sau một lúc nhìn không chớp mắt, mặt chị biến sắc, rồi không trả lời tôi mà thì thầm một mình:<br />
- Thằng Nguyên? Chả lẽ là thằng cu Nguyên?<br />
<br />
Rồi chị nhìn thẳng vào mặt anh ta hỏi:<br />
-Mày có phải là thằng Nguyên, Lê Cao Nguyên không?<br />
<br />
Anh người Thượng lắc đầu.<br />
- Tao là thằng Ksor Tlang.<br />
<br />
Tôi mua hết những lồng gà hôm ấy và và đưa cho anh một nắm tiền. Sau khi đếm xong anh trả lại cho tôi hơn một nửa, rồi buột miệng:<br />
- Mày bắt cái con gà nhiều tiền quá!<br />
<br />
Tôi mất hết bình tĩnh, bảo vợ chồng chị giúp việc đứng giữ anh ta, rồi chạy vào phòng trọ tìm bà chủ nhà. Tôi kể rất vắn tắt những gì đã xảy ra. Có lẽ bà ta là người có tai mắt ờ đây, nhưng là một người tốt bụng, nhấc điện thoại gọi công an. Chưa đầy ba phút hai gã công an chạy tới bằng xe gắn máy, một Kinh một Thượng, cúi đầu chào bà chủ. Chưa kịp nói gì, bà chủ kéo tay hai gã công an ra chợ. Vừa đi bà vừa giải thích. Đến nơi, gã công an nói một tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu gì nhưng thấy anh bán gà gân cổ cãi lại. Cuối cùng hai người công an kéo anh đi, mặc dù anh cố tình chống lại. Chúng tôi đi theo phía sau trở về phòng trọ.<br />
<br />
Qua trung gian của bà chủ nhà trọ, tôi nhờ gã công an giúp tôi, dịch lại các điều trao đổi giữa tôi và anh bán gà, và cố gắng bằng mọi cách tìm ra tông tích của anh ta. Tôi nhét vào tay bà chủ nhà trọ hai tờ giấy bạc 100 đô la.<br />
<br />
- Em có cha mẹ không? Tên ông bà là gì?<br />
- Tôi có cha mẹ. Cha tôi tên Ksor H'lum, mẹ tôi tên H'Nu.<br />
- Có anh em không?<br />
- Không.<br />
- Anh có nhớ ngày sinh không?<br />
- Không. (Gã công an nhìn sang tôi, bảo là sẽ đi tìm khai sinh sau)<br />
- Anh có nhớ lúc còn nhỏ, khi ba, bốn tuổi anh ở đâu không?<br />
- Không! Thì chắc tôi ở với cha mẹ tôi mà.<br />
- Cái sẹo trên cánh tay trái, anh biết vì sao mà có cái sẹo này không? (Gã công an bảo anh xăn tay áo lên và chỉ vào vết sẹo)<br />
- Không! Chắc là bị cành cây đâm trúng.<br />
<br />
Tôi thở ra thất vọng. Nhưng vừa chợt nghĩ ra điều gì, tôi lại hỏi:<br />
- Cha mẹ anh đang ở đâu?<br />
- Buôn Ban Ma Dek.<br />
<br />
Gã công an nhìn tôi, bảo buôn Ban Ma Dek cách đây hơn 10 cây số)[/font]<span style="font-family: inherit;">- Anh ở chung với cha mẹ anh?<br />
- Không, ở bên cạnh, với vợ và hai đứa con.<br />
- Đã có vợ con rồi à! Tôi buột miệng.<br />
<br />
Tôi đề nghị hai gã công an cùng đi với chúng tôi và anh bán gà về buôn Ban Ma Dek. Sau khi hỏi nhỏ bà chủ nhà trọ, hai gã công an gật đầu. Nhưng bảo chúng tôi phải thuê xe ôm, vì về buôn Ban Ma Dek chỉ có đường rừng, xe ô tô không chạy được. Bà chủ nhà trọ gọi giùm chúng tôi bảy cái xe ôm.<br />
<br />
Cha mẹ của anh bán gà đã khá già, trước đây chỉ sống lẻ loi trong núi nên không nói được tiếng Việt. Chúng tôi lại trao đổi qua sự thông dịch của gã công an người Thượng. Vợ và hai con của Ksor Tlang thấy có nhiều người cũng chạy sang nhìn.</span><span style="font-family: inherit;">Lúc đầu, ông bà cứ nhất quyết Ksor Tlang là con đẻ của ông bà. Nhưng thấy tôi khóc lóc, năn nỉ và nhờ gã công an gạn hỏi, cuối cùng ông cha mới kể lại sự thực .<br />
<br />
- Năm ấy, lâu rồi, sau mấy ngày chiến trận ác liệt, mà vợ chồng tôi phải nằm suốt sau tảng đá to trước nhà để tránh đạn. Bỗng một buổi chiều có người lính mặc áo rằn ri, bị thương nặng lắm, nhưng cố lết vào dưới căn nhà sàn của tôi rồi gục chết, trên lưng có mang một đứa bé. Nó là thằng Ksor Tlang bây giờ.<br />
<br />
- Rồi xác của người lính đó ở đâu? Tôi hỏi.<br />
<br />
Ông chỉ tay ra rừng cây phía trước:<br />
- Tôi đã chôn ông ta dưới gốc cây ấy, rồi rào lại, sợ thú rừng bới lên ăn thịt.</span>[font=inherit]Chúng tôi theo sau hai người công an dìu ông gìa đi về phía khu rừng.<br />
<br />
Tôi khóc ngất khi nhìn thấy ngôi mộ lè tè nằm dưới tàng cây, được rào lại bằng những que gỗ nhỏ. Vợ chồng cháu Thùy Dương cũng qùy xuống ôm vai tôi mà khóc. Tôi ngước lên dáo dác tìm Ksor Tlang, thằng Cao Nguyên, đứa con trai duy nhất của vợ chồng tôi. Nó đang đứng bất động, hai tay đang nắm chặt hai đứa con đang trần truồng, đen đúa. Tôi chạy lại ôm hai đứa nhỏ vào lòng, nhưng cả hai đứa trố mắt nhìn tôi dửng dưng, xa lạ.<br />
<br />
Tôi khóc lóc, năn nỉ lắm, ông già mới cùng vợ chồng và hai đứa con thằng Ksor Tlang về nhà trọ với tôi. Nhờ bà chủ thuê một cậu học trò thông dịch. Suốt một đêm, tôi, cháu Thùy Dương và vợ chồng chị vú giúp việc ngày xưa, giải thích, khóc hết nước mắt, xin vợ chồng Ksor Tlang và hai đứa con theo chúng tôi về Nha Trang ở với ông bà ngoại, rồi tôi sẽ tìm cách đưa sang Na Uy. Cả hai ông bà già, nếu muốn, chúng tôi sẽ mua nhà cửa ở Nha Trang và chu cấp cho ông bà sống gần Ksor Tlang. Nhưng cả Ksor Tlang và ông gìa một mực chối từ, bảo là họ không thể nào bỏ bản mà đi. Núi rừng mãi mãi là nhà của họ. Họ không thể nào sống xa rừng cũng như loài cá không thể nào sống mà không có nước.<br />
<br />
Dự trù lên đây ba ngày. Vậy mà chúng tôi đã ở lại đây hơn hai tuần rồi. Ban đầu tôi tính xin phép cha mẹ nuôi của Ksor Tlang cho tôi cải táng phần mộ của chồng tôi, mang về an táng ở nghĩa trang gia tộc ở Nha Trang, nhưng rồi tôi đã đổi ý. Bởi anh phải nằm ở đây, bên cạnh đứa con trai và hai đứa cháu nội của anh, mặc dù bây giờ tất cả đã trở thành người Thượng và chắc không biết gì về anh. Và chắc có lẽ anh cũng muốn nằm lại với bao đồng đội, một thời cùng anh vào sinh ra tử, mà linh hồn chắc đang còn phảng phất quanh đây. Tôi mướn thợ xây lại ngôi mộ. Trên tấm bia không có hình chân dung của anh, mà có tấm ảnh anh chụp chung với tôi và hai cháu Cao Nguyên và Thùy Dương trong ngày sinh nhật bốn tuổi của Cao Nguyên, chỉ hơn một tháng trước ngày anh mất. Tấm ảnh này lúc nào tôi cũng mang theo.<br />
<br />
Tôi cũng không thể bắt Cao Nguyên và vợ con phải rời khỏi núi rừng, nơi đã cưu mang nó. Có lẽ cái tên Cao Nguyên mà ngày xưa chồng tôi đề nghị đặt cho nó đã vận vào cuộc đời của nó. Điều làm tôi đau đớn hơn là tôi chẳng làm được điều gì cho đứa con trai ruột thịt máu mủ của mình, ngoài việc nhờ bà chủ nhà trọ thuê người dựng cho vợ chồng nó và ông bà cha mẹ nuôi một ngôi nhà sàn chắc chắn và rộng rãi hơn, sắm cho vợ chồng nó và hai đứa con một số quần áo mới. Nhưng phải năn nỉ khóc lóc mãi nó mới chịu nhận, cùng số tiền 200 đô la. Bằng đúng số tiền mà tôi trả công cho hai gã công an!<br />
<br />
Ngày cuối cùng, chúng tôi ở lại với với vợ chồng Cao Nguyên trên ngôi nhà sàn mới. Buổi chiều tôi bảo Cao Nguyên và vợ con nó, thay quần áo mới, cùng với tôi và vợ chồng Thùy Dương ra thắp hương trước mộ ba nó. Nó qùy bên cạnh tôi, cúi đầu nói điều gì lầm thầm trong miệng và khi ngước lên, đôi mắt đỏ hoe. Suốt đêm hôm ấy, tôi ngồi khóc một mình. Tôi nghĩ tình mẫu tử thật thiêng liêng, nhưng có lẽ ông trời đã phạt tôi. Tôi sinh ra Cao Nguyên, nhưng không bảo vệ được con mình, để mất nó trong núi rừng này từ ngày nó mới lên bốn tuổi.<br />
<br />
Tôi rời khỏi Cheo Reo, chạy ngược về cầu sông Ba theo Tỉnh Lộ 7 ngày xưa, mang theo trong lòng nỗi đau đứt ruột. Đang giữa mùa xuân nhưng cả bầu trời nhuộm màu ảm đạm. Nhìnnúi rừng hai bên đường, trong ràn rụa nước mắt, tôi mơ hồ như cây lá không còn nữa, mà tất cả đều mang hình dáng của những bộ xương người nối tiếp nhau, trùng điệp. Tai tôi nghe trăm ngàn tiếng khóc quyện vào trong gió. Không biết đó là tiếng khóc của người hay tiếng khóc của cây?<br />
<br />
Phạm Tín An Ninh <br />
(Phỏng theo lời kể của một người vợ lính BĐQ)]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Phạm Tín An Ninh<br />
<br />
Hơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư tại Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng giá, nhưng lại rất đẹp vào ngày hè và lãng mạn vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở.Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong "Rừng Na-Uy", cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm tôi đau đớn, khốn khổ gần cả một đời.<br />
<br />
Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình,đạp xe theo sau tôi những buổi học tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ rung động trước một người. Anh là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng lớp thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạn, cũng chẳng có điều gì trắc trở.<br />
<br />
Ông xã tôi là lính Biệt Động Quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giầy saut của anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới của chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa trải qua khói lửa Mậu Thân.<br />
<br />
Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ khi nào tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh. Mãi đến ba năm sau, tôi mới sinh cho anh đứa con đầu lòng. Một đứa con trai bụ bẫm. Có lẽ vì nặng nợ với núi rừng, anh đề nghị tôi đặt tên cho con là Cao Nguyên. Lê Cao Nguyên. Anh về thăm con khi cháu vừa đầy tháng. Càng lớn Cao Nguyên càng giống cha. Đôi mắt to, sóng mũi cao, đặc biệt là trên đầu mỗi vành tai đều có một "lỗ tai nhỏ" như ba nó.<br />
<br />
Chỉ đúng một tuần sau khi chia tay vợ con về với đơn vị, anh bị thương nặng trong lúc đơn vị hành quân giải vây căn cứ Pleime. Tôi bồng con lên Pleiku. Hậu cứ lo cho mẹ con tôi nơi ăn chốn ở và có xe đưa đón mỗi ngày để tôi thăm và săn sóc anh mỗi ngày trong quân y viện. Sau khi xuất viện, đôi chân còn đi khập khiễng, nên anh được chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đảm trách một công tác tham mưu ở hậu cứ. Mẹ con tôi ở lại Biển Hồ với Anh kể từ ngày ấy. Mẹ chồng tôi rất nhân từ, thường xuyên lên thăm chúng tôi và thuê cho tôi một người giúp việc. Cuối năm 1973, trong một lần pháo kích vào trại gia binh làm một số đàn bà con nít bị thương, trong đó có cháu Cao Nguyên. Rất may, mảnh đạn gây một vết thương khá lớn ở cánh tay, nhưng không vào xương. Sau hôm ấy, chúng tôi ra thuê một căn nhà bên ngoài doanh trại để ở. Năm sau khi Cao Nguyên vừa tròn hai tuổi, tôi sinh đứa con thứ nhì. Lần này là con gái. Con bé giống mẹ, được chúng tôi đặt tên Thùy Dương để nhớ thành phố biển Nha Trang, nơi hai chúng tôi lớn lên và yêu nhau.<br />
<br />
Mấy năm sống ở Pleiku, cái thành phố "đi dăm phút trở về chốn cũ" ấy, những ngày nắng chỉ thấy toàn bụi đỏ, còn những ngày mưa bùn bám dính gót chân. Pleiku đúng là một thành phố lính. Những người vợ lính sống ở đây dường như chỉ để chờ chồng trở về sau những cuộc hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày bị thương nằm trong quân y viện. Với họ thì đúng là "may mà có anh đời còn dễ thương". Trong số ấy đã có biết bao người trở thành góa phụ!<br />
<br />
Giữa tháng 3/75, sau đúng một tuần Ban Mê Thuột mất vào tay giặc. Một buổi sáng, từ bản doanh Liên Đoàn về, anh hối hả bảo mẹ con tôi và chị giúp việc thu dọn đồ đạc gấp, bỏ lại mọi thứ,chỉ mang những gì cần thiết, nhất là thức ăn và sữa cho các con, theo anh vào hậu cứ. Khi vừa đến cổng trại, tôi ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi người đều đã ngồi sẵn trên xe. Chúng tôi rời khỏi doanh trại. Thành phố Pleiku như đang ngơ ngác trước những người từng bao năm sống chết với mình nay vội vàng bỏ đi không một tiếng gĩa từ. Đang giữa mùa xuân mà cả một bầu trời u ám. Pleiku tiễn chúng tôi bằng một cơn mưa đổ xuống khi đoàn xe vừa ra khỏi thành phố. Đến ngã ba Mỹ Thạnh, đoàn xe dừng lại. Phía trước chúng tôi dày đặc xe và người, vừa dân vừa lính, đủ các binh chủng, đủ các loại xe, kể cả xe gắn máy. Tôi nghe chồng tôi và bạn bè nói là ngoài lực lượng xung kích mở đường, một số đơn vị Biệt Động Quân còn được chỉ định đi sau, ngăn chặn địch quân tập hậu để bảo vệ cho đoàn quân di tản! Đây là trách nhiệm nguy hiểm và nặng nề nhất trong một cuộc hành quân triệt thoái.<br />
<br />
Hơn một ngày mò mẫm trên Tỉnh Lộ 7, chúng tôi đến thị xã Hậu Bổn vào lúc trời sắp tối. Vừa dừng lại chưa kịp ăn cơm thì bị pháo kích và súng nổ khắp nơi. Xe và người dẫm lên nhau trong cơn hốt hoảng. Địch đã bao vây. Các đơn vị BĐQ chống trả kiên cường, nhưng địch quá đông, mà bên ta thì vừa quân vừa dân chen chúc nhau hỗn độn. Trong lúc nguy nan này trời lại giáng xuống cho bên ta thêm một điều bất hạnh: Một chiếc phản lực cơ dội bom nhầm vào quân bạn. Đoàn xe vội vã rời Hậu Bổn, di chuyển đến gần Phú Túc thì lại bị địch tấn công từ khắp hướng. Nhiều xe bốc cháy và nhiều người chết hoặc bị thương. Cả đoàn xe không nhúc nhích được. Chúng tôi có lệnh bỏ lại tất cả xe cộ, băng rừng tìm đường về Củng Sơn.<br />
<br />
Chồng tôi, vừa chiến đấu vừa dẫn đường chúng tôi cùng một số binh sĩ, vợ con. Tôi dắt theo Cao Nguyên còn chị giúp việc bồng cháu Thùy Dương. Chúng tôi lầm lũi trong rừng. Tiếng súng vẫn còn ầm ĩ, những viên đạn lửa như muốn xé màn đêm. Khi chúng tôi mệt lả cũng là lúc đến bờ một con suối nhỏ. Chồng tôi lo chỗ ngủ cho mẹ con tôi dưới một gốc cây, rồi cùng một số đồng đội chia nhau canh gác. Mệt qúa, tôi ngủ vùi một giấc, thức giấc thì trời vừa sáng..... Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Tôi không còn đủ sức để bồng Cao Nguyên, nên chồng tôi phải dùng cái võng nilong gùi cháu sau lưng, bên ngoài được phủ bằng cái áo giáp.<br />
<br />
Vừa ra khỏi bìa rừng tôi ngạc nhiên khi thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi cùng hướng chúng tôi, trong đó có nhiều người vừa bị thương, mình đầy máu. Tôi nghĩ họ cũng là những vợ chồng, con cái, cha mẹ dắt dìu nhau đi tìm sự sống. Hình như họ không còn mang theo bất cứ thứ gì. Nhìn nét mặt ai nấy cũng kinh hoàng. Chồng tôi bàn bạc cùng một số bạn bè trong đơn vị, chúng tôi lại tách khỏi đám đông này, tìm một lộ trình khác mà đi, để tránh sự phát hiện của địch.<br />
<br />
Vừa rời đoàn người chừng vài phút thì đạn pháo thi nhau rớt xuống. Tiếng la khóc thất thanh cộng với tiếng súng nổ khắp nơi làm cho cả một khu rừng như trải qua một cơn địa chấn. Trong nhóm chúng tôi cũng có một số người đã chết. Đến lúc này thì mạnh ai nấy tìm đường sống. Gia đình tôi cùng gia đình vài người bạn nữa chạy vào khu rừng phía trước, nơi không nghe tiếng súng. Kinh nghiệm bao nhiêu năm chiến trận, bây giờ chồng tôi chỉ còn dùng để mong cứu được vợ con mình. Địch quân tràn ngập. Một số đơn vị tan rã. Đồng đội kẻ chết người bị thương. Có thể một số đã bị bắt. Tôi không thể tưởng tượng được số mệnh bi thảm của những người lính Biệt Động Quân một thời oanh liệt trên khắp chiến trường, giờ này lại tan tác trong bất ngờ, tức tưởi! Chồng tôi suýt bật khóc, khi nghe cấp chỉ huy truyền lệnh từ ông tướng tư lệnh Quân Đoàn: "Đạp lên mà đi!". Trong cả đời binh nghiệp, chắc những người lính không còn nhận được cái lệnh nào đau đớn hơn thế nữa.<br />
<br />
Sau chừng một tiếng đồng hồ băng rừng, chúng tôi bất ngờ gặp một toán lính hơn 20 người thuộc tiểu đoàn cũ của chồng tôi..... Thầy trò chưa kịp nắm tay mừng rỡ thì súng nổ. Địch quân phía trước mặt.. Trở lại cương vị chỉ huy, chồng tôi lưng mang con, điều động anh em xông vào trận mạc. Một cuộc đánh tốc chiến, toán địch quân bị tiêu diệt. Chồng tôi quay lại tìm và hướng dẫn đám đàn bà con nít chúng tôi đi tiếp.[/font]<span style="font-family: inherit;">Trong núi rừng đêm xuống thật nhanh. Cái bóng tối bây giờ thật rợn người. Tôi hình dung cái bóng của tử thần. Chúng tôi dừng lại trên một ngọn đồi thấp. Tôi nghiệp cho những người lính trung thành. Đáng lẽ họ lợi dụng bóng đêm để đi tiếp, vì đó là sở trường của họ, nhưng thấy một số vợ con bạn bè cùng vài anh em bị thương không thể đi nổi, nghe lời chồng tôi, tất cả cùng ở lại qua đêm. Sau khi sắp xếp anh em phòng thủ, chồng tôi trở lại phụ lo chỗ nằm cho mẹ con tôi. Tối hôm ấy, dù mệt, nhưng sao tôi cứ trằn trọc, không ngủ được. Chồng tôi ôm tôi dựa vào một gốc cây. Anh ôm tôi thật chặt vào lòng, thỉnh thoảng hôn nhẹ tôi, trên môi, trên tóc. Trong hoàn cảnh này chẳng ai còn lòng dạ nào để lãng mạn yêu thương, nhưng có lẽ anh tội nghiệp cho một người con gái đã trót chọn chồng là lính chiến. Và cũng không ngờ đó là những nụ hôn cuối cùng anh dành cho tôi. <br />
<br />
Buổi sáng sớm khi vừa xuống chân đồi, chúng tôi chạm súng với địch. Cũng là lần cuối tôi chứng kiến những người lính Biệt Động can trường. Các anh phân tán từng toán nhỏ, xông vào lòng địch mà đánh, tiếng thét "Biệt Động Quân Sát" vang dội cả một vùng. Nghe súng nổ, tôi đoán lực lượng địch đông lắm. Một anh trung sĩ bị thương ở cánh tay trong trận đánh hôm qua, được chỉ định dắt tất cả đám đàn bà con nít chúng tôi ra khỏi vùng giao chiến. Đã vậy anh còn phải dìu theo một người lính bị thương khác. Vợ chồng tôi thất lạc nhau kể từ phút ấy. Tôi còn lạc mất cả cháu Cao Nguyên, được ba nó gùi theo phía sau lưng ngay cả những khi lâm trận. Không biết chiếc áo giáp có đủ để che chắn hình hài bé nhỏ của con tôi. Hình ảnh này trước đây tôi nghĩ chỉ có diễn ra trong mấy cuốn truyện Tàu mà tôi đã đọc.<br />
<br />
Tiếp tục di chuyển từng vài giờ đồng hồ nữa, khi tới một con đường mòn, chúng tôi lại nghe súng nổ. Anh trung sĩ dẫn đường chúng tôi nhận ra từng loạt lựu đạn nổ, bảo chúng tôi nằm rạp xuống. Chờ im tiếng súng, đám chúng tôi rời con đường mòn, chạy về bên hướng rừng bên phải, mà theo anh trung sĩ, có thể an toàn hơn. Khi đến bìa rừng, tôi thấy mấy người lính BĐQ nằm chết bên cạnh xác quân thù, máu me lai láng. Sau này tôi được biết những người lính này bị địch bao vây, đã tự sát để cùng chết chung với giặc.<br />
<br />
Đi vào cánh rừng bên phải chỉ vài trăm mét nửa thì chúng tôi bị một đám khá đông VC chặn lại. Anh trung sĩ bị tước hết vũ khí. Tất cả chúng tôi bị lùa vào bên bờ suối nhỏ. Ở đây tôi gặp một số sĩ quan, binh sĩ của ta bị bắt, nhiều người tay bị trói ngược ra sau, ngồi theo hàng dọc quay lưng ra suối, trước họng súng sẵn sàng nhả đạn của kẻ thù. Tôi cố ý tìm xem, nhưng không thấy chồng tôi trong số người bị bắt. Lòng tôi lo âu vô hạn. Từ lúc ấy, tiếng súng tạm im, chỉ còn tiếng quát tháo và tiếng nói rất khó nghe của đám người thắng trận. Tất cả chúng tôi bị lùa về địa điểm tập trung, một ngôi trường nằm trong huyện Củng Sơn (Sơn Hòa).<br />
<br />
Trong cảnh khốn cùng này, tôi chỉ còn lại một điều may mắn: Chị giúp việc rất tốt bụng và trung thành. Vừa bồng bế, bảo bọc cho cháu Thùy Dương, vừa lo lắng cho tôi. Chị đi đâu đó xin cho tôi nửa bát cơm, nhưng tôi không nuốt nổi, mặc dù đã trải qua hai ngày đói khát. Nhìn đứa con gái vừa mới lên hai lây lất bên cạnh và nghĩ tới chồng tôi và đứa con trai giờ này không biết sống chết ra sao, lần đầu tiên tôi bật khóc. <br />
<br />
Cuối cùng thì tôi cũng lần mò về đến Nha Trang, khi thành phố này cũng vừa lọt vào tay giặc. Khi nhận ra tôi, mẹ tôi ôm tôi vào lòng và khóc như mưa. Tôi không đủ can đảm để mang tin buồn đến nhà chồng, nhờ cha tôi sang báo tin tôi và cháu Thùy Dương vừa mới về nhà, chồng tôi và cháu Cao Nguyên còn đang mất tích. Cả nhà chồng kéo sang thăm tôi, bồng cháu Thùy Dương về nhà chăm sóc. Mẹ chồng tôi thẫn thờ cả mấy ngày liền khi nhận được tin này. Nằm nhà hơn một tuần, nhờ mẹ tận tình chăm lo, sức khỏe tôi đã gần bình phục, tôi xin được trở lại Phú Bổn tìm chồng và cháu Cao Nguyên. Cả nhà tôi và cha mẹ chồng đều ái ngại, âu lo. Nhưng qua sự nài nỉ của tôi, cuối cùng cha mẹ chồng cho đứa em trai út của chồng tôi, dùng xe honda chở tôi ngược đường lên Tỉnh Lộ 7.<br />
<br />
Mặc dù đã chứng kiến bao nhiêu máu lửa tang tóc, cũng như đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi thực sự kinh hãi những gì trước mắt, khi nhìn thấy ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy, những bộ xương người còn vương vãi đó đây, bao nhiêu nấm mộ bị lấp vội bên đường. Cả một vùng xông mùi tử khí. Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số. Đến Cheo Reo, hỏi thăm một vài người dân, được biết một số sĩ quan bị bắt làm tù binh, đang còn giam ở Thuần Mẫn. Chúng tôi đến đó, trình giấy phép đi tìm chồng của Ủy Ban Quân Quản mới được cho vào trại... Sau khi tên VC trực ban cho biết không có tên chồng tôi trong danh sách tù binh, tôi xin được gặp bất cứ sĩ quan nào cùng đơn vị với chồng tôi. Rất may, tôi gặp được anh đại đội phó lúc chồng tôi còn ở tiểu đoàn. Anh cho biết là có gặp một số binh sĩ cùng chồng tôi chiến đấu dưới ngọn đồi gần đèo Tu Na. Họ cho biết chồng tôi bị thương, nhưng cố tìm cách đưa cháu Cao Nguyên đến một nơi nào đó. Tôi sáng lên niềm hy vọng. Ngay hôm ấy tôi thuê năm người thượng, theo tôi lần theo con đường dọc bờ sông mà tôi còn nhớ, trở lại khu đồi thấp, rồi bung ra xa đi tìm. Liên tục trong một tuần, chúng tôi chỉ tìm được mấy bộ xương người, một số mộ vô danh, nhưng không thấy dấu vết của chồng tôi. Tôi trở về mang theo niềm tuyệt vọng, không chỉ cho tôi, mà cho cả nhà chồng .<br />
<br />
Cha mẹ chồng tôi lập bàn thờ cho chồng tôi và Cao Nguyên, đứa cháu đích tôn của ông bà. Ngày 19 tháng 3 là ngày giỗ của hai cha con.</span>]Hàng năm, cứ đến ngày này, tôi và Thùy Dương đều trở lại Phú Bổn, tìm đến chân đồi, dưới gốc cây nằm giữa đỉnh đồi, mà đêm cuối cùng chồng tôi ôm tôi vào lòng, thắp hương tưởng niệm anh và cháu Cao Nguyên.. Tôi đã dùng dao khắc đậm tên anh và cháu Cao Nguyê vào thân cây. Lần nào, khi nước mắt ràn rụa, trong tiếng gió rừng, tôi mơ hồ như có tiếng khóc từ gốc cây này, rồi văng vẳng bao nhiêu tiếng khóc từ những thân cây khác, từ những khúc gỗ nằm vương vãi do bom đạn hôm nào, tạo thành những âm thanh não nùng, xé ruột.<br />
<br />
Tôi đã mang dư âm của tiếng khóc ấy đến tận Bắc Âu, nơi mẹ con tôi định cư sau chuyến vượt biển được một chiếc tàu của vương quốc Na Uy cứu vớt. Tháng 5 năm 1985, cha mẹ chồng tôi góp vàng cùng một người bạn ở vùng biển Lương Sơn đóng ghe vượt biển. Tôi, cháu Thùy Dương, và một đứa em trai của tôi đi cùng với gia đình chồng. Tôi cũng xin được một chỗ cho chị giúp việc lúc trước (chị đã về quê trên vùng quê Diên Khánh, sau ngày cùng tôi thoát chết trở về), nhưng chị chối từ. Tôi âm thầm gom nhặt tài sản của nhà chồng và của tôi mang lên biếu chị trước khi rời khỏi quê nhà.<br />
<br />
Hai mươi năm sau, khi Thùy Dương vừa làm đám cưới, tôi muốn đưa vợ chồng cháu về lại Việt Nam trình diện ông bà ngoại, và đến địa điểm cuối cùng khi chồng tôi và Cao Nguyên còn sống, như là một nghĩa cử để cháu tưởng nhớ đến cha và anh mình. Chúng tôi đến đây vào giữa mùa xuân, một ngày trước ngày giỗ chồng và đứa con trai. Con đường Tỉnh Lộ 7 ngày xưa bây giờ đã được tráng nhựa và đổi tên thành Quốc Lộ 25. <br />
<br />
Chúng tôi thuê bao một chiếc xe tám chỗ ngồi. Ngoài tôi và vợ chồng cháu Thùy Dương ,còn có vợ chồng cậu em trai út của tôi và vợ chồng chị giúp việc ngày xưa. Chúng tôi đến Cheo Reo, bây giờ có tên mới là A Yun Pa thuộc tỉnh Gia Lai. Tất cả không còn gì dấu vết của chiến tranh. Người ta đã cố tình trát phấn tô son lên thành phố núi này để có dáng dấp của thời kỳ đổi mới. Màu sắc lòe loẹt, vài ngôi nhà cao tầng quê mùa kệch cỡm, những ngôi nhà sàn "cải biên" thành những biệt thự của các ông quan lớn, nằm chơ vơ giữa một vùng nghèo nàn mang tên "thị xã". Nhìn dãy núi Hàm Rồng từ xa, ẩn hiện trong những đám mây mù, lòng tôi chùng xuống. Nơi ấy, đã bao lần tôi đến thăm chồng, để được hòa mình vào đơn vị với những người lính trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Cũng ở nơi ấy tôi đã vinh dự chứng kiến chồng tôi cùng nhiều anh em đồng đội được ông tướng Vùng gắn huy chương lên ngực áo khi ban nhạc trổi khúc quân hành. Tất cả bây giờ đã trở thành huyền thoại. <br />
<br />
Sau khi thuê phòng trọ, tắm rửa và cơm nước xong, chúng tôi hỏi đường đến tháp Yang Mun và tháp Drang Lai. Vì nghe dân ở đây bảo các vị thần Chàm trong hai ngôi tháp này linh thiêng ghê lắm. Tôi khấn vái và xin xăm. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi lá xăm tôi bốc trúng lại là bốn câu Kiều của ông Nguyễn Du:<br />
<br />
Từ phen chiếc lá lìa rừng .<br />
Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây <br />
Rõ ràng hoa rụng hương bay <br />
Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi.<br />
<br />
Tôi bán tín bán nghi, vì nghe nhiều người nói ở Việt Nam, chuyện cúng bái, mê tín dị đoan, bây giờ là một business. Chẳng lẽ ông thần Chàm này lại thuộc cả truyện Kiều. Nghĩ như vậy, nhưng thấy bốn câu thơ lại đúng vào trường hợp của mình, tôi cũng thấy lòng buồn vô hạn. Trở về phòng trọ, bà chủ nhà cho biết ngày mai có chợ phiên của người dân tộc, vừa đông vui vừa có thể mua nhiều thứ thổ sản, gia cầm với gía rất rẻ. Tôi cũng muốn mua mấy con gà, để cúng chồng tôi. Khi còn sống anh thích ăn gà luộc. Bà còn cho biết thêm dân chúng ở vùng này đa số là người Thượng thuộc các sắc tộc Djarai, Bahnar, Hroi và M'dhur. Có một số sống trong các bản rất xa, cách thị xã này từ 10 tới 20 cây số.<br />
<br />
Sau một đêm trằn trọc với những cơn ác mộng, vừa mới chợp mắt tôi đã nghe tiếng người réo gọi nhau. Ngôn ngữ của các sắc tộc, tôi không hiểu họ nói gì. Chợ phiên nhóm rất sớm.Chúng tôi vội vàng ăn sáng rồi kéo nhau ra khu chợ, nằm không xa trước nhà trọ. Tôi có cảm giác lạ lẫm vì đây là lần đầu tiên tôi đến một buổi chợ phiên của người sắc tộc. Đã vậy vợ chồng cháu Thùy Dương cứ theo hỏi tôi điều này điều nọ. Khi đang cố giải thích về nguồn gốc người Thượng, chúng tôi đến một quày gà. Những con gà tre nhỏ xíu được nhốt trong mấy cái lồng đan bằng tre. Tôi ngồi xuống lựa hai con gà béo nhất, bảo người chủ bắt hộ hai con gà này ra khỏi lồng. Người chủ là anh đàn ông người Thượng vừa đen vừa ốm, nói tiếng Việt chưa sõi... <br />
<br />
Khi Anh xăn tay áo lên và thò tay vào lồng gà, tôi bỗng giật mình khi phát hiện vết sẹo trên cánh tay trái. Vết sẹo có hình dáng đầu một con cọp. Tôi nhớ tới Cao Nguyên, đứa con trai ba tuổi, bị thương trong trận pháo kích của VC vào trại gia binh ở Biển Hồ. Vết thương trên cánh tay cháu sau khi chữa lành cũng để lại một vết sẹo có hình ảnh đầu một con cọp. Biểu tượng binh chủng BĐQ mà chồng tôi luôn mang trên vai áo. Tôi biến sắc, nắm chặt cánh tay anh người Thượng và nhìn vào mặt anh ta. Cũng hai con mắt khá to, cũng cái sống mũi cao, nhưng khuôn mặt cháy nắng, mái tóc mầu nâu sậm như mầu đất đỏ Pleiku. Không có nét đẹp của Cao Nguyên ngày trước. Anh người Thượng ngượng ngùng, cúi mặt xuống, khựng lại. Nhưng tôi chợt nhớ ra trên vành tai của Cao Nguyên có một lỗ tai nhỏ, giống như ba của nó, tôi cúi xuống để nhìn kỹ vào tai anh người thượng. Tôi bàng hoàng khi nhận ra hai cái lỗ tai nhỏ trên hai vành tai. Bất giác, tôi ôm chầm lấy anh và nước mắt trào ra. Nhưng anh bán gà đẩy mạnh tôi ra và nói một tràng tiếng Thượng. Vợ chồng cháu Thùy Dương ngơ ngác nhìn tôi, không biết xảy ra điều gì. <br />
Nghĩ tới chị giúp việc ngày trước có thể xác nhận cùng tôi đôi điều kỳ lạ, tôi báo cháu Thùy Dương đi gọi chị từ gian hàng hoa lan phía trước. Tôi kéo chị ra xa và nói vào tai chị :<br />
- Chị nhìn kỹ anh người Thượng này xem có giống ai không?<br />
<br />
Sau một lúc nhìn không chớp mắt, mặt chị biến sắc, rồi không trả lời tôi mà thì thầm một mình:<br />
- Thằng Nguyên? Chả lẽ là thằng cu Nguyên?<br />
<br />
Rồi chị nhìn thẳng vào mặt anh ta hỏi:<br />
-Mày có phải là thằng Nguyên, Lê Cao Nguyên không?<br />
<br />
Anh người Thượng lắc đầu.<br />
- Tao là thằng Ksor Tlang.<br />
<br />
Tôi mua hết những lồng gà hôm ấy và và đưa cho anh một nắm tiền. Sau khi đếm xong anh trả lại cho tôi hơn một nửa, rồi buột miệng:<br />
- Mày bắt cái con gà nhiều tiền quá!<br />
<br />
Tôi mất hết bình tĩnh, bảo vợ chồng chị giúp việc đứng giữ anh ta, rồi chạy vào phòng trọ tìm bà chủ nhà. Tôi kể rất vắn tắt những gì đã xảy ra. Có lẽ bà ta là người có tai mắt ờ đây, nhưng là một người tốt bụng, nhấc điện thoại gọi công an. Chưa đầy ba phút hai gã công an chạy tới bằng xe gắn máy, một Kinh một Thượng, cúi đầu chào bà chủ. Chưa kịp nói gì, bà chủ kéo tay hai gã công an ra chợ. Vừa đi bà vừa giải thích. Đến nơi, gã công an nói một tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu gì nhưng thấy anh bán gà gân cổ cãi lại. Cuối cùng hai người công an kéo anh đi, mặc dù anh cố tình chống lại. Chúng tôi đi theo phía sau trở về phòng trọ.<br />
<br />
Qua trung gian của bà chủ nhà trọ, tôi nhờ gã công an giúp tôi, dịch lại các điều trao đổi giữa tôi và anh bán gà, và cố gắng bằng mọi cách tìm ra tông tích của anh ta. Tôi nhét vào tay bà chủ nhà trọ hai tờ giấy bạc 100 đô la.<br />
<br />
- Em có cha mẹ không? Tên ông bà là gì?<br />
- Tôi có cha mẹ. Cha tôi tên Ksor H'lum, mẹ tôi tên H'Nu.<br />
- Có anh em không?<br />
- Không.<br />
- Anh có nhớ ngày sinh không?<br />
- Không. (Gã công an nhìn sang tôi, bảo là sẽ đi tìm khai sinh sau)<br />
- Anh có nhớ lúc còn nhỏ, khi ba, bốn tuổi anh ở đâu không?<br />
- Không! Thì chắc tôi ở với cha mẹ tôi mà.<br />
- Cái sẹo trên cánh tay trái, anh biết vì sao mà có cái sẹo này không? (Gã công an bảo anh xăn tay áo lên và chỉ vào vết sẹo)<br />
- Không! Chắc là bị cành cây đâm trúng.<br />
<br />
Tôi thở ra thất vọng. Nhưng vừa chợt nghĩ ra điều gì, tôi lại hỏi:<br />
- Cha mẹ anh đang ở đâu?<br />
- Buôn Ban Ma Dek.<br />
<br />
Gã công an nhìn tôi, bảo buôn Ban Ma Dek cách đây hơn 10 cây số)[/font]<span style="font-family: inherit;">- Anh ở chung với cha mẹ anh?<br />
- Không, ở bên cạnh, với vợ và hai đứa con.<br />
- Đã có vợ con rồi à! Tôi buột miệng.<br />
<br />
Tôi đề nghị hai gã công an cùng đi với chúng tôi và anh bán gà về buôn Ban Ma Dek. Sau khi hỏi nhỏ bà chủ nhà trọ, hai gã công an gật đầu. Nhưng bảo chúng tôi phải thuê xe ôm, vì về buôn Ban Ma Dek chỉ có đường rừng, xe ô tô không chạy được. Bà chủ nhà trọ gọi giùm chúng tôi bảy cái xe ôm.<br />
<br />
Cha mẹ của anh bán gà đã khá già, trước đây chỉ sống lẻ loi trong núi nên không nói được tiếng Việt. Chúng tôi lại trao đổi qua sự thông dịch của gã công an người Thượng. Vợ và hai con của Ksor Tlang thấy có nhiều người cũng chạy sang nhìn.</span><span style="font-family: inherit;">Lúc đầu, ông bà cứ nhất quyết Ksor Tlang là con đẻ của ông bà. Nhưng thấy tôi khóc lóc, năn nỉ và nhờ gã công an gạn hỏi, cuối cùng ông cha mới kể lại sự thực .<br />
<br />
- Năm ấy, lâu rồi, sau mấy ngày chiến trận ác liệt, mà vợ chồng tôi phải nằm suốt sau tảng đá to trước nhà để tránh đạn. Bỗng một buổi chiều có người lính mặc áo rằn ri, bị thương nặng lắm, nhưng cố lết vào dưới căn nhà sàn của tôi rồi gục chết, trên lưng có mang một đứa bé. Nó là thằng Ksor Tlang bây giờ.<br />
<br />
- Rồi xác của người lính đó ở đâu? Tôi hỏi.<br />
<br />
Ông chỉ tay ra rừng cây phía trước:<br />
- Tôi đã chôn ông ta dưới gốc cây ấy, rồi rào lại, sợ thú rừng bới lên ăn thịt.</span>[font=inherit]Chúng tôi theo sau hai người công an dìu ông gìa đi về phía khu rừng.<br />
<br />
Tôi khóc ngất khi nhìn thấy ngôi mộ lè tè nằm dưới tàng cây, được rào lại bằng những que gỗ nhỏ. Vợ chồng cháu Thùy Dương cũng qùy xuống ôm vai tôi mà khóc. Tôi ngước lên dáo dác tìm Ksor Tlang, thằng Cao Nguyên, đứa con trai duy nhất của vợ chồng tôi. Nó đang đứng bất động, hai tay đang nắm chặt hai đứa con đang trần truồng, đen đúa. Tôi chạy lại ôm hai đứa nhỏ vào lòng, nhưng cả hai đứa trố mắt nhìn tôi dửng dưng, xa lạ.<br />
<br />
Tôi khóc lóc, năn nỉ lắm, ông già mới cùng vợ chồng và hai đứa con thằng Ksor Tlang về nhà trọ với tôi. Nhờ bà chủ thuê một cậu học trò thông dịch. Suốt một đêm, tôi, cháu Thùy Dương và vợ chồng chị vú giúp việc ngày xưa, giải thích, khóc hết nước mắt, xin vợ chồng Ksor Tlang và hai đứa con theo chúng tôi về Nha Trang ở với ông bà ngoại, rồi tôi sẽ tìm cách đưa sang Na Uy. Cả hai ông bà già, nếu muốn, chúng tôi sẽ mua nhà cửa ở Nha Trang và chu cấp cho ông bà sống gần Ksor Tlang. Nhưng cả Ksor Tlang và ông gìa một mực chối từ, bảo là họ không thể nào bỏ bản mà đi. Núi rừng mãi mãi là nhà của họ. Họ không thể nào sống xa rừng cũng như loài cá không thể nào sống mà không có nước.<br />
<br />
Dự trù lên đây ba ngày. Vậy mà chúng tôi đã ở lại đây hơn hai tuần rồi. Ban đầu tôi tính xin phép cha mẹ nuôi của Ksor Tlang cho tôi cải táng phần mộ của chồng tôi, mang về an táng ở nghĩa trang gia tộc ở Nha Trang, nhưng rồi tôi đã đổi ý. Bởi anh phải nằm ở đây, bên cạnh đứa con trai và hai đứa cháu nội của anh, mặc dù bây giờ tất cả đã trở thành người Thượng và chắc không biết gì về anh. Và chắc có lẽ anh cũng muốn nằm lại với bao đồng đội, một thời cùng anh vào sinh ra tử, mà linh hồn chắc đang còn phảng phất quanh đây. Tôi mướn thợ xây lại ngôi mộ. Trên tấm bia không có hình chân dung của anh, mà có tấm ảnh anh chụp chung với tôi và hai cháu Cao Nguyên và Thùy Dương trong ngày sinh nhật bốn tuổi của Cao Nguyên, chỉ hơn một tháng trước ngày anh mất. Tấm ảnh này lúc nào tôi cũng mang theo.<br />
<br />
Tôi cũng không thể bắt Cao Nguyên và vợ con phải rời khỏi núi rừng, nơi đã cưu mang nó. Có lẽ cái tên Cao Nguyên mà ngày xưa chồng tôi đề nghị đặt cho nó đã vận vào cuộc đời của nó. Điều làm tôi đau đớn hơn là tôi chẳng làm được điều gì cho đứa con trai ruột thịt máu mủ của mình, ngoài việc nhờ bà chủ nhà trọ thuê người dựng cho vợ chồng nó và ông bà cha mẹ nuôi một ngôi nhà sàn chắc chắn và rộng rãi hơn, sắm cho vợ chồng nó và hai đứa con một số quần áo mới. Nhưng phải năn nỉ khóc lóc mãi nó mới chịu nhận, cùng số tiền 200 đô la. Bằng đúng số tiền mà tôi trả công cho hai gã công an!<br />
<br />
Ngày cuối cùng, chúng tôi ở lại với với vợ chồng Cao Nguyên trên ngôi nhà sàn mới. Buổi chiều tôi bảo Cao Nguyên và vợ con nó, thay quần áo mới, cùng với tôi và vợ chồng Thùy Dương ra thắp hương trước mộ ba nó. Nó qùy bên cạnh tôi, cúi đầu nói điều gì lầm thầm trong miệng và khi ngước lên, đôi mắt đỏ hoe. Suốt đêm hôm ấy, tôi ngồi khóc một mình. Tôi nghĩ tình mẫu tử thật thiêng liêng, nhưng có lẽ ông trời đã phạt tôi. Tôi sinh ra Cao Nguyên, nhưng không bảo vệ được con mình, để mất nó trong núi rừng này từ ngày nó mới lên bốn tuổi.<br />
<br />
Tôi rời khỏi Cheo Reo, chạy ngược về cầu sông Ba theo Tỉnh Lộ 7 ngày xưa, mang theo trong lòng nỗi đau đứt ruột. Đang giữa mùa xuân nhưng cả bầu trời nhuộm màu ảm đạm. Nhìnnúi rừng hai bên đường, trong ràn rụa nước mắt, tôi mơ hồ như cây lá không còn nữa, mà tất cả đều mang hình dáng của những bộ xương người nối tiếp nhau, trùng điệp. Tai tôi nghe trăm ngàn tiếng khóc quyện vào trong gió. Không biết đó là tiếng khóc của người hay tiếng khóc của cây?<br />
<br />
Phạm Tín An Ninh <br />
(Phỏng theo lời kể của một người vợ lính BĐQ)]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Bài nên đoc ( lượm trên net - không đề )]]></title>
			<link>http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7956</link>
			<pubDate>Mon, 04 Apr 2022 04:51:49 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://www.loixuamayngan.net/showthread.php?tid=7956</guid>
			<description><![CDATA[Nếu bạn vẫn còn than phiền, xin mời đọc : Chỉ có bánh mì thịt nguội chiều nay, nhưng tôi không phiền cho rằng nàng lười nấu nướng, mà phải vui vì nàng không đi shopping đến giờ cơm chưa về. Cảm ơn Trời, tôi vẫn còn có một người vợ tốt!<br />
<br />
Chồng tôi cứ ngồi salon coi TV, tôi không buồn vì chàng vẫn ở nhà với tôi, thay vì ra bar nhậu nhẹt tốn tiền rồi say rượu lái xe... Cảm ơn Trời tôi vẫn còn người chồng tốt.<br />
<br />
Con gái tôi cằn nhằn vì bị bắt rửa chén. Tôi không phiền vì nó vẫn còn là đứa con gái ngoan nên mới ở nhà ăn cơm tối với cha mẹ.<br />
<br />
Tôi bị đóng thuế nhiều, nhưng không phiền vì điều đó có nghĩa là tôi vẫn còn việc làm trong khi bao người khác bị thất nghiệp.<br />
<br />
Sau buổi tiệc tại nhà, khi bạn bè đã ra về, tôi phải rửa chén, lau chùi, nhưng vui vì có được một vòng rào bạn hữu.<br />
<br />
Quần áo lúc này hơi chật, nhưng tôi không than phiền vì điều đó có nghĩa là tôi đang được no đủ trong khi biết bao người không có miếng ăn.<br />
<br />
Đi giữa trời nắng nóng nực tôi không buồn phiền vì đã được sống thong thả tự do dưới ánh mặt trời.<br />
<br />
Sân cỏ cần được cắt, cửa sổ cần được lau chùi, và bao nhiêu công việc nhà đang chờ đợi nhưng tôi không phiền lòng than thở vì tôi vẫn còn được một mái nhà cho gia đình mình.<br />
<br />
Bãi đậu xe chật ních, tôi chỉ tìm được một chỗ đậu xa lắc xa lơ, nhưng vui vì mình còn có một cái xe để di chuyển và còn mạnh khỏe để đi bộ.<br />
<br />
Tiền điện mùa đông này cao quá, nhưng tôi không than thở vì tôi vẫn còn được sưởi ấm, so với những người phải sống trong giá lạnh.<br />
<br />
Ở trong nhà thờ, cái bà đứng sau tôi hát sai điệu nhạc hết trơn nhưng tôi không lấy làm phiền vì thính giác của mình vẫn còn tốt trong khi kẻ khác không còn khả năng nghe được.<br />
<br />
Đồ đạc quần áo chất đống chưa giặt ủi, nhưng tôi không phiền vì mình vẫn còn có nhiều quần áo để mặc.<br />
<br />
Sau một ngày làm việc tôi mệt mỏi và đau nhức các bắp thịt, nhưng vẫn vui vì mình vẫn còn có khả năng làm được những việc nặng nhọc.<br />
<br />
Buổi sáng đang ngủ ngon mà bị đồng hồ báo thức dậy. Đáng lẽ phải càu nhàu, nhưng tôi vui vì biết mình còn ... sống. Sẽ có một ngày đồng hồ kêu inh ỏi mà vẫn cứ ... ngủ!<br />
<br />
Với những người làm việc chung với tôi, có nhiều tính nết khác thường, tôi không phiền vì chính nhờ họ mà công việc không buồn tẻ, mà trái lại thêm thích thú.<br />
<br />
Và cuối cùng nhận được nhiều e-mail quá tôi không phiền, vì điều đó chứng tỏ rằng tôi có nhiều bạn._]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Nếu bạn vẫn còn than phiền, xin mời đọc : Chỉ có bánh mì thịt nguội chiều nay, nhưng tôi không phiền cho rằng nàng lười nấu nướng, mà phải vui vì nàng không đi shopping đến giờ cơm chưa về. Cảm ơn Trời, tôi vẫn còn có một người vợ tốt!<br />
<br />
Chồng tôi cứ ngồi salon coi TV, tôi không buồn vì chàng vẫn ở nhà với tôi, thay vì ra bar nhậu nhẹt tốn tiền rồi say rượu lái xe... Cảm ơn Trời tôi vẫn còn người chồng tốt.<br />
<br />
Con gái tôi cằn nhằn vì bị bắt rửa chén. Tôi không phiền vì nó vẫn còn là đứa con gái ngoan nên mới ở nhà ăn cơm tối với cha mẹ.<br />
<br />
Tôi bị đóng thuế nhiều, nhưng không phiền vì điều đó có nghĩa là tôi vẫn còn việc làm trong khi bao người khác bị thất nghiệp.<br />
<br />
Sau buổi tiệc tại nhà, khi bạn bè đã ra về, tôi phải rửa chén, lau chùi, nhưng vui vì có được một vòng rào bạn hữu.<br />
<br />
Quần áo lúc này hơi chật, nhưng tôi không than phiền vì điều đó có nghĩa là tôi đang được no đủ trong khi biết bao người không có miếng ăn.<br />
<br />
Đi giữa trời nắng nóng nực tôi không buồn phiền vì đã được sống thong thả tự do dưới ánh mặt trời.<br />
<br />
Sân cỏ cần được cắt, cửa sổ cần được lau chùi, và bao nhiêu công việc nhà đang chờ đợi nhưng tôi không phiền lòng than thở vì tôi vẫn còn được một mái nhà cho gia đình mình.<br />
<br />
Bãi đậu xe chật ních, tôi chỉ tìm được một chỗ đậu xa lắc xa lơ, nhưng vui vì mình còn có một cái xe để di chuyển và còn mạnh khỏe để đi bộ.<br />
<br />
Tiền điện mùa đông này cao quá, nhưng tôi không than thở vì tôi vẫn còn được sưởi ấm, so với những người phải sống trong giá lạnh.<br />
<br />
Ở trong nhà thờ, cái bà đứng sau tôi hát sai điệu nhạc hết trơn nhưng tôi không lấy làm phiền vì thính giác của mình vẫn còn tốt trong khi kẻ khác không còn khả năng nghe được.<br />
<br />
Đồ đạc quần áo chất đống chưa giặt ủi, nhưng tôi không phiền vì mình vẫn còn có nhiều quần áo để mặc.<br />
<br />
Sau một ngày làm việc tôi mệt mỏi và đau nhức các bắp thịt, nhưng vẫn vui vì mình vẫn còn có khả năng làm được những việc nặng nhọc.<br />
<br />
Buổi sáng đang ngủ ngon mà bị đồng hồ báo thức dậy. Đáng lẽ phải càu nhàu, nhưng tôi vui vì biết mình còn ... sống. Sẽ có một ngày đồng hồ kêu inh ỏi mà vẫn cứ ... ngủ!<br />
<br />
Với những người làm việc chung với tôi, có nhiều tính nết khác thường, tôi không phiền vì chính nhờ họ mà công việc không buồn tẻ, mà trái lại thêm thích thú.<br />
<br />
Và cuối cùng nhận được nhiều e-mail quá tôi không phiền, vì điều đó chứng tỏ rằng tôi có nhiều bạn._]]></content:encoded>
		</item>
	</channel>
</rss>