Quán hàng đã mịt mù xa
Hôm nay đi thư viện, Bọ vớ được quyển sách này, tuy là in từ trong nước nhưng tác giả hẳn là người Sài Gòn xưa vì có những nơi, những chốn, những quán ăn Bọ đã từng biết đến ngày xưa. Đọc đoản va7n này thiệt tình Bọ thấy lại hình ảnh cô bé gài ngày xưa theo chân Ba mình đi ăn quán cháo cá Chợ Cũ, thể nào Ba cũng kêu thêm cái giò chéo nguẩy (Bọ kêu vậy đó chớ hổng có kêu bánh quẩy gì gì hết!) cho con bé và kêu thêm dĩa cá sống để trộn vô tô cháo còn bốc khói, thêm dĩa xá bấu ướp dòn dòn ngọt ngọt để ăn kèm nữa! Hoặc là quán cơm thố cũng ở Chợ Cũ, họ tiềm thố canh rong biểm tiềm gà thiệt nóng, húp vô có cọng rong biển cắn nghe sựt sựt!!!
Lớn hơn chút, thì cùng XX lúc bấy giờ là người yêu, hai đứa lòn lách dưới những sào quần áo (Má mà thấy lòn như vầy thì chết đòn với Má!) trong con hẻm đường Nguyễn Huệ thông ra Hàm Nghi, leo lên chiếc cầu thang cũ kỷ để đến quán cơm Bà Cả Đọi, ngồi trên tấm phản (mà Bọ kêu là bộ ván) ăn cơm Bắc quê chàng, mắt thì láo liêng ngó quanh may ra có gặp nhà văn Duyên Anh hay Hoàng Hải Thủy!
Bọ chép lại đây, để có bạn nào vốn cũng là người gốc Sè Goòng cùng trạc Bọ, may ra nhớ lại, thấy lại những hình ảnh xưa chăng!
Quán hàng đã mịt mù xa
Tác giả: Lê văn Sâm
Biết là như thế, "Đời người, không ai tắm hai lần trên cùng 1 dòng sông".
Nước cứ chảy, đời cứ xuôi; nhưng tôi thì khó thể nào làm vui lòng các bạn đường xa về Sài Gòn, rủ rê tôi tới những quán còn tên quen cũ, nhưng tất cả đã đổi thay. Không phải quán đổi thay mà có thể do tôi thay đổi tâm tình "càng già càng khó ưa". Thôi thì sao cũng đặng nhưng cũng cho tôi xin giãi bày.
Tỷ như với quán cơm Bắc quê BÀ CẢ ĐỌI. Từ ngày mở mang đem xuống mặt tiền phố Tôn Thất Thiệp tức xóm Ohier của người Ấn đặt bàn đổi tiền, quán được dựng bảng Đồng Nhân thì tôi đã bắt đầu buồn bã, không còn "mê đắm" tìm tới với "người tình", nay lại còn canh tân thêm lên đường Trương Định gần chùa Bà thì BÀ CẢ ĐỌI càng xa hơn, làm sao mà tôi còn háo hức để cùng các bạn đi ăn cơm "BÀ CẢ ĐỌI"?
Thật ra Đồng Nhân còn xưa hơn Bà Cả Đọi. Đồng Nhân mới là chính gốc, nơi xuất phát của những món ăn nói tóm gọn là "cà pháo mắm tôm". Cũng vì quán Bà Cả Đọi mà tôi đã cố theo đoàn ra Hà Nội, tìm đến làng Đồng Nhân thuộc quận Hai Bà Trưng; nhưng chị tôi nói quán tại làng nay họ đã dọn đi xa, chỉ có Đềnn Hai Bà và chị em tôi đã vào đền đốt hương, sờ nắn đôi chân voi đi ra từ lịch sử. Đìu hiu chị em tôi đứng trên sân rộng, lát đá đất nung, những chiếc lá thu bay lả tả trên nền đá đã viền xanh rêu. Chị nói như mơ hồ:
- Hôm qua tôi đã nấu một món Đồng Nhân cho chú ăn rồi, đợi có rươi tươi tôi sẽ làm cho chú món chả rươi. À mà chả rươi của chú nơi quán Đồng Nhân có điểm sợi thì là không?
Tôi thiệt thà nói:
- Bà Cả Đọi thì có, còn Đồng Nhân thì em không lại.
Chị tôi buồn bã:
- Chú này thật là lẩm cẩm, Bà Cả Đọi của chú thì đã sao nào?
Đây, thưa chị, Bà Cả từ Hà Nội, em từ Huế cùng vào Sài Gòn năm 1948 (Bọ ghi chú: trong sách ghi là 1884, Bọ cho là sai vì di cư từ sau năm 1945, nên Bọ tự ý sửa thành 1948). Bà mang theo một bộ phản gỗ và các món ăn thuần tuý Bắc. Em mang theo cây đờn với một tâm hồn ăn uống của đất Thần Kinh. Thương hiệu Bà Cả Đọi là do cặp nhạc sỹ trẻ của nhạc rock Trường Ky - Nam Lộc gán, tên thật của bà là Hoàng thị Túc. "Bà Cả Đọi: là 1 danh hiệu tôn vinh vì bà là ân nhân tình tự của cả hai phía khách: khách "đói món quê nhà đi xa thì nhớ" và khách phía dân lao động, nghệ sĩ đói ăn rách mặc. Trước khi chuyển vào hẻm 53 Nguyễn Huệ bán cơm trên gác gỗ, tôi đã từng đến gánh cơm của bà bán cho công nhân hãng thuốc tây Rousseaux đối diện. Cũng những món ăn "khó thể nào quên" đó nhưng khách ngồi trên những chiếc đòn thấp, bà luôn đưa dĩa cơm cho người ăn chúng tôi, với nụ cười đôn hậu, cử chỉ ân cần, khó thể tìm thấy đâu bây giờ. Bà Cả nhìn người đến ăn với cõi lòng thuơng cảm: họ đói nhưng lại thiếu tiền! Nếu thấy sinh viên, nghệ sĩ hay phu xe, công nhân đến gánh cơm với gương mặt lo buồn thì bà mở lời trước:
- Các cháu cứ vào mà ăn no, thiếu thì ghi sổ mai mốt trả!
Sau khi bà Cả chuyển gánh cơm lên gác gỗ hẻm 53 Nguyễn Huệ thì đó thật là quán cho chúng tôi nhớ mãi. Đây nhé, dẫn nhau vào hẻm sâu hun hút, từ xa ngước lên tôi rất thích màu đỏ của "đốm lửa lựu", như nhà thơ Nguyễn Du tả trong truyện Kiều "Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông". Bà Cả trồng 1 gốc lựu trong chậu đặt nơi góc trên đầu cầu thang trước khi bước lách vào cửa. Gió Nam lay hoa lưu đong đưa, như vẫy tay chào mời khách nhớ món ăn quê Bắc.
Lọt vào trong quán chật, thì đã có dăm ba khách quen ngồi xếp bằng trên tấm phản gỗ đen bóng; tấm phản gỗ là bảo vật duy nhất bà Cả mang theo từ làng Đồng Nhân vào Nam. Ăn cơm Bắc quê mà ngồi phản gỗ thì vừa mát vừa thích hợp cới những bát canh rau muống cua đồng, dĩa dồi trường chấm mắm tôm vắt nước chanh đánh lên sủi bọt, lại được hàn huyên với các đàn anh đàn chị thuộc hàng văn nghệ sĩ, giới sĩ phu Bắc Hà thì bữa ăn càng thấm đậm vị hương.
Đối diện với phản gỗ là dăm chiếc bàn đơn sơ tiếp cận với một mâm thức ăn đơm dài, trên đó bày nhiều món cho khách đứng ngắm mà chỉ trỏ chọn lựa. Các cô gái ăn vận đơn sơ thoăn thoắt lấy thức ăn khách chọn mà mang đến chỗ khách. Bây giờ đi ăn buffet tôi nghĩ lại, hoá ra từ giữa thế kỷ trước bà Cả nhà ta đã biết dọn tiệc buffet rồi; và ngày nay người ta cũng bắt chước bà mà bày những món đậu rán, cà pháo mắm tôm, bên cạnh pa tê xúc xích! Lần cuối cùng, trước khi bà bỏ quán "Bà Cả Đọi" để "xuống núi" với Đồng Nhân, bà có phân vân đứng nói với tôi về một điều lo lắng khác, Rằng:
- Dù có dọn đi đâu, gì thì gì tôi cũng cố giữ các món ăn như cũ. Chỉ ngại một điều là con cà cuống bị thuốc trừ sâu sát hại nhiều quá, nay mai sợ chằng còn cà cuống để có dầu thơm chân quê cho các món ăn của tôi, tôi rất ghét dùnh tinh dầu cà cuống giả tạo.
Như thế đó, một bà chủ đôn hậu, một khung cảnh ấm áp, món ăn cùng gương mặt bạn bè; nên tôi chẳng thể nào tới một Đồng Nhân máy lạnh chung quanh lạnh lùng lạ lẫm...
(Còn tiếp)
Một mai thu chết bên thềm vắng.
Trăng bỏ trần gian, người bỏ người!
|